Các Nhóm Thuốc Dạ Dày Thường Được Dùng Để Điều Trị

Các Nhóm Thuốc Dạ Dày Thường Được Dùng Để Điều Trị

Các căn bệnh dạ dày xảy ra rất phổ biến ở người dân Việt Nam do bởi chế độ sinh hoạt và tình hình dịch tễ của vùng. Chính vì thế, việc tìm hiểu và sử dụng các nhóm thuốc dạ dày là rất cần thiết đối với người bệnh và chúng ta. Hãy cùng chuyên gia Scurma Fizzy tìm hiểu các nhóm thuốc dạ dày được bác sĩ sử dụng trong điều trị căn bệnh này nhé. 

1. Viêm loét dạ dày là gì?

Viêm loét dạ dày là tình trạng viêm niêm mạc dạ dày khi bị mất cân bằng giữa yếu tố tấn công và yếu tố bảo vệ. Nguyên nhân có thể do một số bệnh lý gây ra, bao gồm nhiễm trùng (Helicobacter pylori), thuốc (thuốc chống viêm không steroid, rượu), căng thẳng và các hiện tượng tự miễn dịch (viêm dạ dày teo). Nhiều trường hợp không có triệu chứng nhưng thỉnh thoảng vẫn bị đầy bụng khó tiêu và xuất huyết tiêu hoá. 

Cac-nhom-thuoc-da-day-1

Các nhóm thuốc dạ dày – Viêm loét dạ dày là gì?

Axit được tiết ra bởi các tế bào thành ở hai phần ba gần (phần thân) của dạ dày. Axit trong dạ dày tạo ra độ pH tối ưu cho pepsin và lipase dạ dày và kích thích tuyến tụy bài tiết bicarbonate giúp tiêu hoá thức ăn. Quá trình tiết axit được bắt đầu bởi thức ăn: ý nghĩ, mùi hoặc vị của thức ăn ảnh hưởng đến sự kích thích âm đạo của các tế bào G tiết ra gastrin nằm ở một phần ba xa (antrum) của dạ dày. 

Sự xuất hiện của protein đến dạ dày càng kích thích sản xuất gastrin. Gastrin tuần hoàn kích hoạt giải phóng histamine từ các tế bào giống enterochromaffin trong cơ thể dạ dày. Histamine kích thích các tế bào thành thông qua các thụ thể H2 của chúng. Tế bào thành tiết ra axit, và kết quả là độ pH giảm khiến các tế bào đối kháng D giải phóng somatostatin, chất này ức chế giải phóng gastrin (kiểm soát phản hồi tiêu cực).

Sự tiết axit xuất hiện ngay từ khi mới sinh và đạt đến mức độ trưởng thành (tính theo cân nặng) khi tuổi lên 2. Có sự suy giảm sản lượng axit ở những bệnh nhân lớn tuổi bị viêm dạ dày mãn tính, nhưng nếu không thì lượng axit được duy trì trong suốt cuộc đời.

Bình thường, niêm mạc đường tiêu hóa được bảo vệ bởi một số cơ chế riêng biệt:

  • Niêm mạc sản xuất chất nhầy và HCO3 tạo ra một gradient pH từ lòng dạ dày (pH thấp) đến niêm mạc (pH trung tính). Chất nhầy đóng vai trò như một rào cản ngăn cản sự khuếch tán của axit và pepsin.
  • Tế bào biểu mô loại bỏ các ion hydro dư thừa (H +) thông qua hệ thống vận chuyển màng và có các mối nối chặt chẽ, ngăn cản sự khuếch tán ngược của ion H +.
  • Lưu lượng máu qua niêm mạc loại bỏ axit dư thừa đã khuếch tán qua lớp biểu mô.

Một số yếu tố tăng trưởng (ví dụ, yếu tố tăng trưởng biểu bì, yếu tố tăng trưởng giống insulin) và prostaglandin có liên quan đến việc sửa chữa niêm mạc và duy trì tính toàn vẹn của niêm mạc. Các yếu tố cản trở sự bảo vệ niêm mạc này (đặc biệt là thuốc chống viêm không steroid [NSAIDs] và nhiễm Helicobacter Pylori) dẫn đến viêm dạ dày và bệnh loét dạ dày tá tràng.  

NSAID thúc đẩy quá trình viêm niêm mạc và hình thành vết loét (đôi khi kèm theo xuất huyết tiêu hóa) cả tại chỗ và toàn thân. Bằng cách ức chế sản xuất prostaglandin thông qua sự tắc nghẽn của enzym cyclooxygenase (COX), NSAID làm giảm lưu lượng máu trong dạ dày, giảm tiết chất nhầy và HCO3, đồng thời giảm quá trình sửa chữa và sao chép tế bào. Ngoài ra, do NSAID là axit yếu và không bị ion hóa ở pH dạ dày, chúng khuếch tán tự do qua hàng rào chất nhầy vào các tế bào biểu mô dạ dày, nơi các ion H + được giải phóng, dẫn đến tổn thương tế bào. Vì sản xuất prostaglandin trong dạ dày liên quan đến đồng dạng COX-1, NSAID là chất ức chế chọn lọc COX-2 có ít tác dụng phụ trên dạ dày hơn các NSAID khác.

2. Các nhóm thuốc dạ dày giúp điều trị bệnh 

Điều trị dạ dày sẽ khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân gây ra vết loét. Điều quan trọng là cần phải phát hiện sớm và điều trị kịp thời vết loét để ngăn chặn các biến chứng nguy hiểm. 

2.1. Các nhóm thuốc dạ dày kháng acid dịch vị

Các tác nhân này trung hòa axit dịch vị và làm giảm hoạt động của pepsin (giảm khi pH dạ dày tăng lên > 4,0). Ngoài ra, một số thuốc kháng axit còn hấp phụ pepsin. Thuốc kháng axit có thể cản trở sự hấp thu của các loại thuốc khác (ví dụ: tetracycline, digoxin, sắt).

Thuốc kháng axit làm giảm lượng acid dạ dày, thúc đẩy chữa lành vết loét và giảm tái phát. Chúng tương đối rẻ nhưng phải sử dụng từ 5 đến 7 lần/ngày. Chế độ kháng axit tối ưu để chữa lành vết loét dường như là 15 đến 30 mL chất lỏng. Tổng liều hàng ngày của thuốc kháng axit nên cung cấp 200 đến 400 mEq khả năng trung hòa. Tuy nhiên, thuốc kháng axit chỉ được sử dụng để giảm triệu chứng ngắn hạn của bệnh.

Nói chung, có 2 loại thuốc kháng axit:

  • Có thể hấp thụ
  • Không thể hấp thụ

Thuốc kháng axit có thể hấp thụ (ví dụ, natri bicarbonat , canxi carbonat) giúp trung hòa nhanh chóng, hoàn toàn nhưng có thể gây nhiễm kiềm và chỉ nên dùng trong thời gian ngắn (1 hoặc 2 ngày).

Các nhóm thuốc dạ dày kháng axit không hấp thụ được (ví dụ: nhôm hoặc magie hydroxit) sẽ gây ít tác dụng phụ toàn thân hơn và được ưu tiên hơn trong điều trị. Tuy nhiên khi sử dụng nhóm thuốc này sẽ bắt gặp một số tác dụng phụ.

  • Nhôm hydroxit là một loại thuốc kháng axit tương đối an toàn, được sử dụng phổ biến. Khi sử dụng lâu dài, nhôm hydroxit có thể gây táo bón.
  • Magie hydroxit là một thuốc kháng axit hiệu quả hơn nhôm hydroxit, tuy nhiên nó có thể gây tác dụng không mong muốn là tiêu chảy. Để hạn chế tiêu chảy, nhiều loại thuốc kháng axit độc quyền kết hợp thuốc kháng axit magie và nhôm. Vì một lượng nhỏ magie được hấp thụ, nên thận trọng khi sử dụng các chế phẩm magie cho bệnh nhân bị bệnh thận.

2.2. Các thuốc ức chế bơm proton

Các loại thuốc này là chất ức chế mạnh H+/K+/ATPase. Enzyme này, nằm trong màng chế tiết đỉnh của tế bào thành, đóng vai trò quan trọng trong việc tiết H + (proton). Các loại thuốc này có thể ức chế hoàn toàn quá trình tiết axit và có thời gian tác dụng kéo dài. Chúng thúc đẩy chữa lành vết loét và cũng là thành phần chính của phác đồ diệt trừ H. pylori . 

Thuốc ức chế bơm proton bao gồm esomeprazole, lansoprazole và pantoprazole, những thuốc này có sẵn bằng đường uống và IV. 

Cac-nhom-thuoc-da-day-3

Các nhóm thuốc dạ dày – Thuốc ức chế bơm proton

Đối với loét tá tràng không biến chứng, dùng omeprazole 20mg x 1 lần/ngày hoặc lansoprazole 30mg x 1 lần/ngày trong 4 tuần. Loét tá tràng có biến chứng (tức là nhiều vết loét, loét chảy máu, hoặc những trường hợp xảy ra ở những bệnh nhân có bệnh lý nền nghiêm trọng) đáp ứng tốt hơn với liều cao hơn ( omeprazole 40 mg một lần một ngày, lansoprazole 60mg một lần một ngày hoặc 30mg 2 lần một ngày). Loét dạ dày bạn cần điều trị từ 6 đến 8 tuần. Viêm dạ dày và GERD thì cần điều trị kéo dài từ 8 đến 12 tuần.

2.3. Các nhóm thuốc dạ dày kháng histamin

Thuốc chẹn H2 hoạt động để giảm lượng axit mà dạ dày của bạn sản xuất bằng cách ngăn chặn histamine, một chất hóa học trong cơ thể bạn báo hiệu các tế bào thành của niêm mạc dạ dày của bạn tạo ra axit.

Các loại thuốc này (cimetidine, famotidine, nizatidine có sẵn bằng đường uống) là chất ức chế cạnh tranh của histamine tại thụ thể H2, do đó ức chế tiết axit do gastrin kích thích và làm giảm tương ứng thể tích dịch vị. 

cimetidine

Các nhóm thuốc dạ dày – Thuốc kháng histamine

Thuốc chẹn H2 được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, bắt đầu tác dụng từ 30 đến 60 phút sau khi uống và đạt hiệu quả cao nhất sau 1 đến 2 giờ. Thời gian tác dụng tỷ lệ với liều lượng và dao động từ 6 đến 20 giờ. Thường nên giảm liều ở những bệnh nhân lớn tuổi.

Đối với loét tá tràng, uống một lần mỗi ngày cimetidine 800mg, famotidine 40mg, hoặc nizatidine 300mg trước khi đi ngủ hoặc sau bữa ăn tối trong 6 đến 8 tuần là có hiệu quả. Loét dạ dày có thể đáp ứng với cùng một phác đồ tiếp tục trong 8 đến 12 tuần, nhưng vì sự tiết axit về đêm ít quan trọng hơn, nên dùng thuốc vào buổi sáng có thể có hiệu quả tương đương hoặc cao hơn. Trẻ em ≥ 40 kg có thể dùng liều người lớn. Trẻ em < 40 kg liều uống là cimetidine 10mg/kg cứ 12 giờ một lần. 

Đối với GERD, thuốc kháng histamin hiện nay chủ yếu được sử dụng để kiểm soát tạm thời triệu chứng cơn đau. Những loại thuốc này đã được thay thế bằng thuốc ức chế bơm proton cho hầu hết bệnh nhân bị bệnh loét. Viêm dạ dày chữa lành bằng famotidine được đưa ra 2 lần một ngày trong 8 đến 12 tuần.

2.4. Các nhóm thuốc dạ dày kháng sinh diệt HP

2.4.1. Amoxicillin

Helicobacter pylori rất nhạy cảm với amoxicillin cả in vivo và in vitro. Giống như các penicilin khác, amoxicilin hoạt động bằng cách ức chế tổng hợp thành tế bào vi khuẩn, dẫn đến chết tế bào. Không giống như ampicillin, amoxicillin được bài tiết tích cực vào dịch vị từ máu.

Mặc dù được tiết vào dịch vị và niêm mạc khi điều trị bằng đường uống, bản thân amoxicillin chỉ đạt được tỷ lệ tiệt trừ H pylori dưới 20%. Dùng amoxicillin đơn độc hơn 2 g/ngày không làm tăng tỷ lệ tiệt trừ H.pylori. Tuy nhiên, khi dùng kết hợp với omeprazole, nồng độ amoxicillin trong dịch dạ dày và hiệu quả diệt trừ của nó tăng lên đáng kể. 

amoxicillin

Các nhóm thuốc dạ dày – Thuốc kháng sinh diệt HP

2.4.2. Tetracyclin

Tetracycline đã được sử dụng chủ yếu kết hợp với các kháng sinh khác để diệt trừ H.pylori. Nó ổn định ở độ pH thấp và, giống như amoxicillin, có hoạt tính chống lại H.pylori như một tác nhân tại chỗ, đạt được nồng độ trong dịch dạ dày và niêm mạc lớn hơn nhiều so với MIC đã công bố của H.pylori . 

Tuy nhiên, nếu sử dụng đơn độc, tetracycline không thể loại trừ nhiễm trùng H.pylori. Tuy nhiên, tình trạng kháng H.pylori chưa được báo cáo. Kháng sinh này không được áp dụng cho trẻ em hoặc phụ nữ có thai, vì nó làm cho răng đang phát triển bị ố vĩnh viễn.

2.4.3. Metronidazole

Metronidazole – Một kháng sinh thuộc nhóm nitroimidazole được dùng để để điều trị vi khuẩn kỵ khí và ký sinh trùng. Trong thập kỷ qua, nó đã trở thành một phương pháp chính trong điều trị nhiễm khuẩn H.pylori. Trên thực tế, ở các nước đang phát triển, nơi việc sử dụng metronidazole phổ biến hơn, đã có báo cáo rằng hơn 80% chủng H pylori kháng metronidazole. Do đó, metronidazole luôn được dùng kết hợp với một hoặc nhiều loại kháng sinh.

Metronidazole là loại kháng sinh duy trì sự ổn định ở pH thấp và nó được bài tiết nhiều vào dịch vị. Hoạt động bài tiết metronidazole giảm khi dùng chung với thuốc ức chế bơm proton. Nó có thời gian bán thải từ 8 đến 12 giờ. Các tác dụng phụ thường gặp nhất của metronidazole là có vị kim loại trong miệng, buồn nôn và khó chịu vùng thượng vị. Metronidazole đã được báo cáo là gây ra phản ứng không giống như khi dùng kết hợp với rượu.

2.4.4. Clarithromycin

Clarithromycin là một loại kháng sinh macrolide thế hệ mới, có tính ổn định axit và được hấp thu tốt qua đường ruột. Thời gian bán hủy của nó dài hơn 3 đến 4 giờ đối với clarithromycin, so với 1 đến 2 giờ đối với erythromycin. Hoạt tính kháng khuẩn của nó tương tự như erythromycin, nhưng có hiệu quả hơn đối với H.pylori. Ngoài ra, nó được phân hủy trong gan thành một hợp chất hydroxyl hóa cũng hoạt động chống lại H.pylori. 

Clarithromycin đặc biệt ở chỗ khi sử dụng đơn độc, nó cho đến nay có hoạt tính tốt nhất chống lại H.pylori  đạt tỷ lệ tiệt trừ từ 40% đến 60%. Clarithromycin đạt được tốc độ tiệt trừ tốt nhất khi được sử dụng thường xuyên và với liều lượng lớn hơn. Tuy nhiên, như với metronidazole, khi dùng clarithromycin dưới dạng đơn trị liệu, tình trạng kháng thuốc có thể phát triển.

Tóm lại với các nhóm thuốc dạ dày là kháng sinh này, bạn nên phối hợp các nhóm thuốc theo phác đồ của bác sĩ để đạt hiệu quả diệu HP và chống lại sự đề kháng của thuốc. Không tự ý sử dụng kháng sinh để điều trị vì sẽ gia tăng nguy cơ kháng thuốc khi sử dụng không hợp lí.

2.5. Các nhóm thuốc dạ dày giúp bảo vệ niêm mạc

2.5.1. Prostaglandin

Một số thuốc nhóm prostaglandin (đặc biệt là misoprostol) ức chế tiết axit bằng cách giảm sự tạo ra AMP vòng được kích hoạt bởi sự kích thích histamine của tế bào thành, và tăng cường khả năng bảo vệ niêm mạc. Các dẫn xuất tổng hợp của prostaglandin được sử dụng chủ yếu để giảm nguy cơ tổn thương niêm mạc do thuốc chống viêm không steroid (NSAID) gây ra. 

Thuốc Prostaglandin

Thuốc Prostaglandin

Những bệnh nhân có nguy cơ cao bị loét do NSAID (tức là bệnh nhân lớn tuổi, những người có tiền sử loét hoặc biến chứng loét, những người cũng đang dùng corticosteroid) là những đối tượng nên dùng misoprostol 200mcg uống 4 lần một ngày với thức ăn cùng với NSAID.

Tác dụng ngoại ý thường gặp của misoprostol là đau quặn bụng và tiêu chảy, xảy ra ở 30% bệnh nhân. Misoprostol là thuốc phá thai cực mạnh và tuyệt đối chống chỉ định với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ không sử dụng biện pháp tránh thai.

2.5.2. Sucralfate

Thuốc này là một phức hợp sucrose-nhôm phân ly trong axit dạ dày và tạo thành một hàng rào vật lý đối với khu vực bị viêm, bảo vệ nó khỏi axit, pepsin và muối mật. Ngoài ra, sucralfate cũng ức chế tương tác pepsin với cơ chất, kích thích sản xuất prostaglandin niêm mạc và liên kết với muối mật. Nó không ảnh hưởng đến sản xuất axit hoặc tiết gastrin. 

Sucralfate dường như có tác dụng dinh dưỡng trên niêm mạc bị loét, có thể bằng cách liên kết các yếu tố tăng trưởng và tập trung chúng tại vị trí loét. Ít gây tác dụng toàn thân do nó hấp thu toàn thân không đáng kể. 

Cac-nhom-thuoc-da-day-6

Các nhóm thuốc dạ dày – Sucralfate

Táo bón xảy ra ở 3 đến 5% bệnh nhân. Sucralfate có thể liên kết với các loại thuốc khác và cản trở sự hấp thu của chúng.

3. Lưu ý khi sử dụng các nhóm thuốc dạ dày

Khi sử dụng thuốc điều trị viêm loét dạ dày, người bệnh cần có một số lưu ý:

  • Lưu ý theo dõi tình trạng của bệnh và nên đi khám bác sĩ để được khám và điều trị hiệu quả nhất. 
  • Cần lưu ý trong chế độ ăn uống, tránh những đồ cay nóng, thức ăn nhiều dầu mỡ gây khó tiêu, ăn nhiều trái cây, rau xanh. Hạn chế tối đa rượu bia để tăng tác dụng điều trị của các nhóm thuốc dạ dày này. Kết hợp tập luyện thể dục hàng ngày để tăng cường sức đề kháng.
  • Khi sử dụng thuốc cần tuân thủ theo lộ trình đã được bác sĩ kê đơn, không tự ý bỏ liều, theo dõi các tác dụng phụ có thể gặp phải đề phản ánh lại với bác sĩ. Không tự ý sử dụng thêm thuốc hoặc các thực phẩm chức năng để tránh các tương tác bất lợi có thể gặp phải.
  • Theo dõi đáp ứng điều trị của thuốc thông qua các triệu chứng hằng ngày của bệnh và đi khám định kỳ để đánh giá lại tình trạng bệnh cũng như đáp ứng điều trị của các thuốc hiện đang sử dụng.

4. Kết luận

Vừa rồi là những chia sẻ các nhóm thuốc dạ dày của chuyên gia Scurma Fizzy  dùng để điều trị các bệnh liên quan đến dạ dày – tá tràng mà bạn có thể tham khảo. Tuy nhiên, để điều trị loét dạ dày – tá tràng bạn nên đi tới những cơ sở khám bệnh và được chỉ định từ bác sĩ để có những phác đồ hiệu quả. Để biết thêm những thông tin về các nhóm thuốc hay tình trạng của bệnh dạ dày, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi qua HOTLINE 1800 6091 để được tư vấn kịp thời. Chúc các quý vị nhiều sức khoẻ!

Share this post


Contact Me on Zalo
1800 6091