Biểu Hiện Trào Ngược Dạ Dày Là Gì?

Biểu Hiện Trào Ngược Dạ Dày Là Gì?

Tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng cần thiết cho sự tồn tại của các sinh vật sống và đã phát triển thành nhiệm vụ phức tạp và cụ thể của hệ tiêu hóa. Dạ dày chính là bộ phận quan trọng nhất trong hệ tiêu hóa do thức ăn, đồ uống chúng ta sử dụng muốn chuyển thành dinh dưỡng đều phải thông qua dạ dày. Chức năng sinh học “ độc đáo “ của dạ dày chính là tiết acid dịch vị, nó không chỉ khởi động quá trình tiêu hóa mà còn hoạt động như một tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại các vi khuẩn truyền qua thức ăn. Vì vậy, các bệnh lý liên quan đến dạ dày đã được quan tâm từ lâu và trào ngược dạ dày là một trong những bệnh lý phổ biến hiện nay, do ảnh hưởng của lối sống, của thay đổi môi trường,… Vậy trào ngược dạ dày là bệnh gì? Biểu hiện trào ngược dạ dày là như thế nào?

1. Bệnh trào ngược dạ dày được định nghĩa như thế nào?

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) có thể được định nghĩa là các triệu chứng phiền toái đủ để gây giảm chất lượng cuộc sống của một cá nhân, hoặc chấn thương hoặc biến chứng do dòng chảy ngược của các chất trong dạ dày vào thực quản, hầu họng và / hoặc đường hô hấp. Các triệu chứng do trào ngược, viêm thực quản ăn mòn và các biến chứng lâu dài có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động hàng ngày, năng suất làm việc, giấc ngủ và chất lượng cuộc sống.

Giải phẫu thực quản:

Thực quản là ống dẫn thức ăn, nước uống từ hầu ( họng ) đến dạ dày, hình trụ dẹt trước sau, dài khoảng  25cm, phía trên nối với hầu ngang mức đốt sống cổ 6, phía dưới thông với dạ dày ở tâm vị, ngang mức đốt sống ngực 10.

thực quản người

Thực quản được chia làm 3 đoạn theo chiều dài cơ thể từ trên xuống: đoạn cổ dài khoảng 3cm; đoạn ngực dài khoảng 20cm và đoạn bụng dài khoảng 2cm.

Thực quản khá di động, nối với các tạng xung quanh bằng các cấu trúc lỏng lẻo. Ở cổ, thực quản nằm ngay sau khí quản, đi xuống trung thất sau, nằm phía sau tim, trước động mạch chủ ngực; xuyên qua cơ hoành đi vào ổ bụng, nối với dạ dày.

Lòng thực quản có ba nơi hẹp gồm:

Phần nối tiếp với hầu, ngang mức sụn nhẫn.

Ngang mức cung động mạch chủ.

Lỗ tâm vị. 

Thực quản có cấu tạo từ trong ra ngoài bao gồm các lớp:

Lớp niêm mạc là lớp biểu mô nhiều tầng không sừng.

Tấm dưới niêm mạc: chứa các tuyến có chức năng tiết nhầy.

Lớp cơ  bao gồm tầng vòng ở trong và tầng dọc ở ngoài. Lớp cơ thực quản gồm hai loại là cơ vân ở đoạn 1/3 phía trên và cơ trơn ở 2/3 phía dưới.

Lớp vỏ ngoài là lớp tổ chức liên kết lỏng lẻo ở thực quản đoạn cổ và ngực, lớp phúc mạc ở thực quản đoạn bụng.

2. Biểu hiện trào ngược dạ dày.

Các biểu hiện trào ngược dạ dày phổ biến được PGS.TS TRẦN NGỌC ÁNH đề cập đến “  Bệnh nhân thường có triệu chứng về ống tiêu hóa, đau từ thượng vị đi ngược lên trên, một triệu chứng ngoài ống tiêu hóa là bệnh nhân có đau rát họng, ho khan.”

biểu hiện trào ngược dạ dày

Để tìm hiểu rõ hơn các biểu hiện trào ngược dạ dày thông qua chia sẻ của PGS.TS Trần Ngọc Ánh chúng ta cùng đi chi tiết từng biểu hiện.

2.1 Các triệu chứng về ống tiêu hóa.

2.1.1 Ợ chua, nôn trớ.

 Ợ chua và / hoặc nôn trớ từ 2 lần trở lên một tuần là dấu hiệu của trào ngược dạ dày thực quản. Dịch nôn trớ có thể chứa cả acid dịch vị và tá tràng, nếu xuất hiện hỗn dịch này có thể gây tăng nguy cơ viêm thực quản. Sau khi nôn bệnh nhân có cảm thấy rát họng, nóng ngực, tạo cảm giác khó chịu. 

biểu hiện trào ngược dạ dày

2.1.2 Trào ngược về đêm – biểu hiện trào ngược dạ dày.

Trào ngược xảy ra vào ban đêm, bệnh nhân sẽ cảm nhận được các chất trong dạ dày đi ngược lên trên, các chất này thường đi gần đến họng gây nóng rát ngực, họng nhưng chưa đi đến khoang miệng vì vậy không gây nôn. Thêm vào đó, trào ngược về đêm hay xuất hiện bên phải.

2.2 Đau từ thượng vị đi ngược lên trên.

Do acid trào ngược gây tổn thương niêm mạc những nơi dịch trào đi qua từ dạ dày đến thực quản. Cơn đau có thể giống cơn đau tim trong thiếu máu cục bộ.

2.3 Các triệu chứng ngoài ống tiêu hóa.

 Các biểu hiện ngoài thực quản của trào ngược dạ dày thực quản cũng rất phổ biến nhưng không phải lúc nào cũng được nhận ra. Các triệu chứng ngoài thực quản nhiều khả năng do trào ngược vào thanh quản, dẫn đến hắng giọng và khàn giọng. Khá nhiều bệnh nhân bị GERD phàn nàn về cảm giác đầy bụng hoặc có khối u ở phía sau cổ họng, được gọi là cảm giác globus.

2.3.1 Biểu hiện trào ngược dạ dày – đau rát họng, ho khan.

Biểu hiện trào ngược dạ dày này là tình trạng dịch trào ngược vào thanh quản gây tổn thương ban đầu lên niêm mạc thanh quản gây đau rát. Ho khan là phản xạ của cơ thể khi có vật thể lạ xâm phạm vào ống dẫn khí (thanh quản) để đẩy vật lạ ra ngoài thông qua co bóp phối hợp của các bộ phận chức năng.

 Hơn nữa, trào ngược axit có thể gây ra co thắt phế quản, có thể làm trầm trọng thêm bệnh hen suyễn, do đó dẫn đến ho, khó thở và thở khò khè. Một số bệnh nhân trào ngược dạ dày – thực quản cũng có thể bị buồn nôn và nôn mãn tính.

2.3.2 Globus.

Nguyên nhân của globus vẫn chưa được hiểu rõ nhưng người ta cho rằng việc tiếp xúc của hầu họng với axit dẫn đến tăng trương lực của cơ thắt thực quản trên (UES) từ đó gây globus.

2.4 Các biến chứng có thể gặp ở bệnh nhân trào ngược dạ dày – thực quản.

Nếu không được điều trị, GERD có thể dẫn đến một số biến chứng nghiêm trọng, bao gồm viêm thực quản và Barrett thực quản.

2.4.1 Viêm thực quản.

Viêm thực quản có thể rất khác nhau về mức độ nghiêm trọng, trong đó có những trường hợp nặng dẫn đến ăn mòn rộng, loét và chít hẹp thực quản. Viêm thực quản cũng có thể dẫn đến xuất huyết tiêu hóa (GI). Chảy máu đường tiêu hóa trên có thể biểu hiện như thiếu máu, nôn mửa, nôn mửa. Viêm thực quản mãn tính do tiếp xúc với axit liên tục cũng có thể dẫn đến sẹo và sự phát triển của hẹp đường tiêu hóa, thường xuất hiện với biểu hiện chính là chứng khó nuốt. 

2.4.2 Barrett thực quản.

Bệnh nhân bị trào ngược axit dai dẳng có thể có nguy cơ bị Barrett thực quản, được định nghĩa là chuyển sản ruột của thực quản. Trong thực quản của Barrett, biểu mô tế bào vảy bình thường của thực quản được thay thế bằng biểu mô trụ bằng tế bào hình cốc, như một phản ứng khi tiếp xúc với axit. Những thay đổi của Barrett thực quản có thể kéo dài ra gần chỗ nối dạ dày thực quản (GEJ) và có khả năng tiến triển thành ung thư biểu mô tuyến thực quản, do đó việc phát hiện sớm rất quan trọng trong việc phòng ngừa và quản lý sự biến đổi ác tính. 

biểu hiện trào ngược dạ dày

3. Nguyên nhân gây trào ngược dạ dày thực quản.

Cơ chế bệnh sinh của nó rất phức tạp, do cơ thắt yếu, dịch dạ dày trào lên, trong một số trường hợp bệnh nhân có nuốt vướng, nuốt nghẹn, lúc nào cũng thấy vướng ở cổ. Nguyên nhân tại sao co thắt thực quản thì người ta chưa biết. Còn nguyên nhân nữa do dị tật bẩm sinh ở dạ dày. Phần lớn người ta cho rằng là do co thắt thực quản yếu.

3.1 Do cơ thắt thực quản yếu.

 Do bị giãn cơ thắt thực quản dưới thoáng qua (TLESR). TLESR là những khoảnh khắc ngắn của sự ức chế trương lực cơ vòng thực quản dưới mà không phụ thuộc vào một lần nuốt. Mặc dù đây là bản chất sinh lý, nhưng tần suất xuất hiện trong giai đoạn sau ăn ngày càng tăng và chúng góp phần rất lớn vào việc trào ngược axit ở bệnh nhân GERD. 

3.2 Do tổn thương cơ thắt thực quản dưới (LES).

Thoát vị gián đoạn (hiatus hernia) là một tình trạng bệnh lý trong đó phần trên của dạ dày hoặc cơ quan nội tạng khác phình ra thông qua một lỗ hở trên cơ hoành. Cơ hoành là một cấu trúc cơ hỗ trợ quá trình hô hấp và có một lỗ nhỏ, một lỗ gián đoạn, qua đó thực quản đi qua trước khi kết nối với dạ dày. Đây được gọi là ngã ba dạ dày thực quản (GEJ). Trong thoát vị gián đoạn, dạ dày đẩy qua lỗ đó và vào ngực và làm tổn thương cơ thắt thực quản dưới (LES). Sự lỏng lẻo này của LES có thể cho phép thành phần trong dạ dày và axit trào ngược lên thực quản và là nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh trào ngược GERD.

3.3 Vi khuẩn helicobacter pylori (HP).

Nguyên nhân hàng đầu mắc bệnh dạ dày là do vi khuẩn Helicobacter pylori (HP) – loại vi khuẩn lây qua đường ăn uống, thức ăn bị nhiễm bẩn. Tất cả các đối tượng trẻ em, người lớn hay người lớn tuổi đều có thể bị nhiễm vi khuẩn HP chứ không ưu tiên một đối tượng nào đặc biệt. Vi khuẩn HP đã được tìm ra năm 1983 và được giải Nobel, đây là một loại vi khuẩn thông thường và hoàn toàn có thể ức chế bằng kháng sinh.

H.pylori là một loại vi khuẩn vi khuẩn gram âm, thường cư trú trong dạ dày trong giai đoạn đầu đời. Nó có khả năng tiếp cận lớp chất nhầy bảo vệ ở bề mặt niêm mạc dạ dày và tồn tại trong hàm lượng axit cực cao của dạ dày.  Sự tiết axit dạ dày là một yếu tố chính trong sự phát triển của bệnh trào ngược. Vai trò của vi khuẩn HP trong sự phát triển của bệnh teo dạ dày, đó là cơ chế quan trọng nhất giúp bảo vệ thực quản khỏi sự tiếp xúc quá nhiều của axit, vì sự teo của tiểu thể có thể làm suy yếu sự bài tiết của tế bào thành.

 biểu hiện trào ngược dạ dày

3.4 Thuốc — Một số loại thuốc có thể ảnh hưởng đến GERD.

Việc xử lý các bệnh đi kèm (ví dụ, với thuốc chẹn kênh canxi, thuốc kháng cholinergic, và các loại thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) có thể ảnh hưởng tiêu cực đến GERD và điều trị của nó. Một số loại thuốc (ví dụ, bổ sung kali, tetracyclin, bisphosphonates) có thể gây ra tổn thương trên đường tiêu hóa (GI ) và làm trầm trọng thêm các triệu chứng giống như trào ngược hoặc tổn thương do trào ngược.

Thuốc NSAIDs có tác dụng tại chỗ liên quan đến sự suy giảm tính chất kỵ nước của hàng rào chất nhầy cho phép khuếch tán ngược các ion hydro. Chúng cũng làm giảm khả năng bảo vệ niêm mạc bằng cách ức chế toàn bộ hoạt động của cyclooxygenase (COX), dẫn đến giảm tổng hợp chất nhầy và bicarbonat, làm suy giảm lưu lượng máu qua niêm mạc, tất cả đều quan trọng trong việc ngăn chặn và trung hòa sự khuếch tán ngược của các ion hydro. Từ đó làm giảm khả năng bảo vệ của niêm mạc, dẫn đến niêm mạc dễ tổn thương hơn.

3.5 Ăn uống và lối sống.

biểu hiện trào ngược dạ dày

  • Sự gia tăng các triệu chứng GERD xảy ra ở những người tăng cân, béo phì: Béo phì dẫn đến tăng tiếp xúc với axit thực quản, điều này có thể liên quan một phần đến việc tăng nồng độ estrogen, cao hơn trong bệnh béo phì so với người gầy và có liên quan chặt chẽ đến việc tăng tiếp xúc với axit và bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD). Những thay đổi về chức năng này có thể dẫn đến trào ngược, viêm thực quản và GERD, có thể tiến triển thành Barrett thực quản và ung thư biểu mô tuyến thực quản.
  • Chỉ vòng eo/ chiều cao WHtR-waist to height ratio cao có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc GERD. Trọng lượng cơ thể dư thừa và đặc biệt, vòng bụng tăng lên tạo ra áp lực trong ổ bụng cao hơn và giảm áp lực LES.
  • Chế độ ăn uống nhiều chất béo có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh GERD và viêm thực quản ăn mòn (EE) cao hơn.
  • Đồ uống có ga là một yếu tố nguy cơ gây ra chứng ợ nóng khi ngủ ở bệnh nhân GERD.
  • lối sống không lành mạnh: uống rượu, hút thuốc ( thuốc lá, thuốc là, vape,…), lười vận động, thức khuya… sẽ tác động đến cơ vòng thực quản dưới…
  • Chế độ ăn uống thiếu khoa học: ăn nhiều đồ ăn sẵn, đồ chiên rán ngập dầu, đồ ăn quá cay, chua ( kích thích niêm mạc dạ dày, tăng co bóp dễ gây trào ngược ), sử dụng nhiều đồ ngọt, ăn ít rau xanh, hoa quả,…

4. Các phương pháp phát hiện trào ngược dạ dày – thực quản.

4.1 Chẩn đoán lâm sàng.

Đánh giá ban đầu dựa vào sự xuất hiện, mức độ nghiêm trọng và tần suất của chứng ợ nóng, nôn trớ (axit hoặc các đặc điểm khác), và các đặc điểm báo động. Cơ sở dựa trên các biểu hiện trào ngược dạ dày điển hình và không điển hình: ợ chua, nôn trớ, trào ngược về đêm, đau thượng vị, globus, ho rát, ho khan.

4.2 Chẩn đoán cận lâm sàng.

Nội soi có đau không? có tốn nhiều tiền không? Là câu hỏi của rất nhiều người bị trào ngược dạ dày thực quản. Tuy nhiên, tùy theo ngưỡng chịu đựng của từng người, có những người rất bình thường, khi nội soi chỉ khoảng 1-2 phút là xong, nhưng có những người khó chịu có nôn ọe. Thực ra khi cho 1 ống cỡ ngón tay vào họng sẽ hơi khó chịu. Bệnh lý dạ dày có nhiều loại khác nhau, mỗi bệnh lý có chi phí điều trị khác nhau. Còn giá nội soi dạ dày của hầu hết các bệnh viện trên cả nước đều theo quy định của Bộ Y tế.

biểu hiện trào ngược dạ dày

 Lợi ích chính của nội soi là hình ảnh trực tiếp của niêm mạc thực quản. Điều này hỗ trợ chẩn đoán các biến chứng của GERD như viêm thực quản, hẹp thực quản và Barrett thực quản. Một hệ thống phân loại nội soi về mức độ nghiêm trọng của GERD là phân loại Los Angeles, được xếp loại từ A đến D, với D là mức độ nghiêm trọng nhất.

4.2.2 Theo dõi pH lưu động.

Theo dõi pH lưu động được coi là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán trào ngược axit dạ dày. Theo dõi pH lưu động cho phép phát hiện khách quan các hiện tượng trào ngược axit và mối tương quan với các triệu chứng. Điều này đặc biệt hữu ích ở những bệnh nhân có triệu chứng với kết quả nội soi bình thường. Thử nghiệm pH lưu động có thể được hoàn thành với độ tái lập tốt (84–93%), độ nhạy (96%) và độ đặc hiệu (96%). Để hoàn thành thử nghiệm, đầu dò pH (ống thông hoặc viên nang không dây) được đặt vào thực quản trong 24 đến 48 giờ. Phần trăm thời gian có pH thực quản nhỏ hơn 4 là thông số chính được sử dụng trong chẩn đoán GERD. Nó có lợi ích là phát hiện những thay đổi động về độ pH trong khi đứng thẳng và nằm nghiêng. Hơn nữa, đầu dò pH ghi lại số lần xảy ra trào ngược, mức độ gần của trào ngược, cũng như thời gian xảy ra hiện tượng trào ngược. ghi nhận giữa trào ngược và các triệu chứng. 

4.2.3 xét nghiệm chất ức chế bơm proton (dựa vào liệu pháp PPI).

Sử dụng một đợt điều trị PPI chính thức, đủ thời gian (thường là 8 tuần) để đánh giá đáp ứng điều trị ở bệnh nhân GERD.

4.2.4 Áp kế độ phân giải cao.

Các phát hiện trên áp kế thực quản không nhạy hoặc đặc hiệu để chẩn đoán GERD, nhưng có thể xác định các rối loạn vận động thay thế có thể biểu hiện tương tự như GERD.

5. Biện pháp điều trị bệnh trào ngược dạ dày – thực quản thường được áp dụng.

Các biện pháp điều trị, phòng ngừa các biểu hiện trào ngược dạ dày được khuyến cáo với nguyên tắc cốt lõi là các biện pháp can thiệp lối sống và làm giảm lượng axit trong thực quản bằng cách trung hòa axit tại chỗ hoặc bằng cách ức chế tiết axit dạ dày bằng cách điều trị y tế; hoặc số ít là phẫu thuật chống trào ngược. Mục tiêu chính của điều trị là làm giảm các triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân, chữa lành viêm thực quản, ngăn ngừa tái phát triệu chứng và ngăn ngừa hoặc điều trị các biến chứng liên quan đến GERD theo cách hiệu quả nhất về chi phí.

5.1 Thay đổi lối sống – ngăn ngừa biểu hiện trào ngược dạ dày.

Thay đổi lối sống vẫn là ưu tiên hàng đầu trong điều trị GERD với mục tiêu chính là giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống. 

5.1.1 Kê cao đầu giường (gối).

kê cao đầu giường (khoảng 15cm) đã được chứng minh là làm giảm tiếp xúc với axit thực quản và thời gian thanh thải của thực quản cùng với việc giảm các triệu chứng sau đó ở bệnh nhân GERD nằm ngửa. 

5.1.2 Tập sống lành mạnh.

 Hút thuốc, uống nhiều rượu, ăn nhiều bữa tối, đồ ăn nhẹ vào ban đêm và chế độ ăn nhiều chất béo là các yếu tố góp phần vào tỷ lệ giãn cơ thắt thực quản dưới thoáng qua (TLESRs). Vì vậy, việc bỏ các thói quen xấu này sẽ giúp cải thiện bệnh lý.

Chế độ ăn đầy đủ dinh dưỡng cũng là một phần không thể thiếu trong điều trị bệnh cũng như cuộc sống hàng ngày. Ăn nhiều rau xanh, hoa quả, hạn chế đồ chiên rán, đồ nướng.

5.1.3 Tránh sử dụng các loại thuốc phi steroid NSAIDs.

Tất cả bệnh nhân bị GERD nên tránh dùng thuốc chống viêm không steroid (NSAID) vì ảnh hưởng của chúng trong việc phá vỡ cơ chế bảo vệ niêm mạc sinh lý.

Thuốc NSAIDs gồm: dẫn xuất acid salicylic (aspirin), dẫn xuất pyrazolon, dẫn xuất indol (indomethacin), dẫn xuất phenylacetic (diclofenac), dẫn xuất propionic (indoprofen), dẫn xuất oxicam (Tilcotil), dẫn xuất anilin (paracetamol), thuốc ức chế chọn lọc COX-2 (meloxicam),…

Có thể sử dụng sản phẩm SCURMA FIZZY – GIẢI PHÁP HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ CHO DẠ DÀY để bảo vệ và nâng cao sức khỏe dạ dày, ngăn chặn trào ngược.

5.1.4 Tập luyện thể dục thường xuyên.

Tập luyện thể dục giúp rèn luyện thể chất, nâng cao sức đề kháng cho cơ thể. Việc rèn luyện hay chơi thể thao giúp chúng ta có thân hình cân đối, giảm nguy cơ béo phì – là yếu tố nguy cơ của trào ngược dạ dày – tá tràng. Giảm cân được khuyến khích mạnh mẽ ở những bệnh nhân GERD thừa cân, béo phì.

biểu hiện trào ngược dạ dày

 

5.2 Biện pháp dùng thuốc.

Điều trị bằng thuốc cho bệnh nhân GERD nhằm mục đích giảm triệu chứng và giảm thiểu tổn thương niêm mạc do trào ngược axit dạ dày. Các loại thuốc ức chế axit chính bao gồm thuốc chẹn H2 và thuốc ức chế bơm proton.

Thuốc chẹn H2 làm giảm tiết axit dạ dày bằng cách ức chế sự kích thích histamin của tế bào thành. Thuốc chẹn H2 đã được chứng minh là có một số lợi ích về triệu chứng so với giả dược.

Thuốc ức chế bơm proton có tác dụng làm giảm lượng axit tiết ra từ tế bào thành vào lòng dạ dày. Thuốc ức chế bơm proton là nhóm thuốc kháng axit mạnh nhất. Chúng được sử dụng một hoặc hai lần mỗi ngày và có hiệu quả nhất nếu uống trước bữa ăn từ 30 đến 60 phút. Nhiều bệnh nhân có thể sẽ tái phát các triệu chứng sau khi ngưng PPI, do đó thường phải điều trị suốt đời. Ở những bệnh nhân GERD không dùng đến liều PPI hai lần mỗi ngày, có một số bằng chứng cho thấy việc bổ sung thuốc chẹn H2 vào ban đêm có thể có lợi. 

5.3 Phẫu thuật.

Việc sử dụng phẫu thuật chống trào ngược (fundoplication) đã gây tranh cãi. Các nghiên cứu chỉ cho thấy những cải thiện triệu chứng dài hạn tối thiểu khi phẫu thuật so với liệu pháp PPI, tuy nhiên phẫu thuật làm gia tăng tỷ lệ mắc chứng khó nuốt và khó tiêu. Những bệnh nhân đáp ứng tốt nhất với phẫu thuật là những người cũng đáp ứng tốt với PPI và do đó có thể được điều trị về mặt y tế. Do sự khác biệt gần như không đáng kể về hiệu quả giữa phẫu thuật và PPI cũng như nguy cơ biến chứng và tử vong sau phẫu thuật, phẫu thuật chỉ nên dành cho một số bệnh nhân được chọn.

phẫu thuật trào ngược

Trên đây là một số thông tin về bệnh lý trào ngược dạ dày – thực quản, các biểu hiện trào ngược dạ dày, nguyên nhân, phương pháp chẩn đoán, phòng bệnh và điều trị. Cùng sự phát triển của công nghệ y tế cùng sự nâng cao kiến thức cộng đồng về trào ngược dạ dày – tá tràng (GERD) thì việc phòng và điều trị đã được cải thiện đáng kể, tỷ lệ xuất hiện biến chứng nguy hiểm giảm. Do đó, kiến thức về bệnh là trang bị không thể thiếu đối với mỗi người dân, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Để biết thêm các thông tin liên quan hãy liên hệ ngay hotline 18006091 của chúng tôi để được tư vấn tận tình. Chúc quý vị và gia đình khỏe mạnh, hạnh phúc.

Share this post


Contact Me on Zalo
1800 6091