Ung Thư Dạ Dày Giai Đoạn 2 Chẩn Đoán Có Khó Không?

Ung Thư Dạ Dày Giai Đoạn 2 Chẩn Đoán Có Khó Không?

Các loại ung thư nói chung và ung thư dạ dày nói riêng đã trở thành “nỗi sợ” của cả cộng đồng bởi vẫn chưa có thuốc đặc trị . Các cuộc phẫu thuật, hóa-xạ trị rất đau đớn và tốn kém nhưng cũng không thể chữa khỏi hoàn toàn và khó kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân. Bài viết dưới đây được tổng hợp bởi các bác sĩ, dược sĩ của Scurma Fizzy sẽ đem đến cái nhìn tổng quan nhất về ung thư dạ dày giai đoạn 2.

ung thư dạ dày giai đoạn 2

Ung thư dạ dày giai đoạn 2

1. Định nghĩa ung thư dạ dày giai đoạn 2?

1.1. Định nghĩa

Ung thư dạ dày giai đoạn 2  có nghĩa là ung thư có thể đã di căn vào bên trong, lớp nâng đỡ hoặc lớp cơ của dạ dày. Hoặc nó có thể đã lan đến hoặc xuyên qua lớp ngoài của dạ dày.

Một số bệnh ung thư giai đoạn 2 cũng đã lây lan vào các hạch bạch huyết gần đó. Nhưng ung thư không lây lan đến các bộ phận cơ thể, cấu trúc hoặc các cơ quan ở xa.

1.2. Phân giai đoạn ung thư dạ dày giai đoạn 2

Hệ thống phân giai đoạn thường được sử dụng cho bệnh ung thư dạ dày là hệ thống TNM của Ủy ban Ung thư Hoa Kỳ (AJCC), được cập nhật lần cuối vào năm 2018.

Hệ thống này được sử dụng để phân loại tất cả các bệnh ung thư dạ dày (ung thư biểu mô) ngoại trừ những ung thư bắt đầu từ ngã ba dạ dày thực quản (nơi dạ dày và thực quản gặp nhau) hoặc những ung thư bắt đầu ở trung tâm (phần đầu tiên của dạ dày) và đang phát triển vào ngã ba dạ dày thực quản. . Những bệnh ung thư đó được phân giai đoạn (và thường được điều trị) giống như ung thư thực quản. Các loại ung thư khác có thể bắt đầu trong dạ dày, chẳng hạn như khối u mô đệm đường tiêu hóa (GIST) và u lympho cũng có giai đoạn khác nhau.

Hệ thống TNM cho bệnh ung thư dạ dày dựa trên 3 thông tin chính:

Loại T ( Tumor- khối u) mô tả phạm vi của khối u chính (nguyên phát), bao gồm mức độ khối u đã phát triển vào các lớp của thành dạ dày và lan đến các cấu trúc hoặc cơ quan lân cận. 5 lớp của thành dạ dày bao gồm:

  • Niêm mạc: lớp trong cùng, nơi bắt đầu gần như tất cả các bệnh ung thư dạ dày. Niêm mạc có 3 phần: tế bào biểu mô, một lớp mô liên kết (lớp đệm) và một lớp cơ mỏng (niêm mạc cơ).
  • Lớp dưới niêm mạc: một lớp nâng đỡ dưới niêm mạc
  • Lớp cơ: một lớp cơ dày di chuyển và trộn các chất trong dạ dày
  • Lớp dưới thanh mạc
  • Lớp thanh mạc: lớp bao bọc bên ngoài của dạ dày

Loại N ( Notes- hạch) mô tả bất kỳ bệnh ung thư nào lây lan đến các hạch bạch huyết gần đó.

Loại M (Metastasis – di căn) mô tả bất kỳ sự lây lan (di căn) nào đến các bộ phận xa của cơ thể, chẳng hạn như gan hoặc phổi.

Các số hoặc chữ cái sau T, N và M cung cấp thêm thông tin chi tiết về từng yếu tố này. Con số cao hơn có nghĩa là bệnh ung thư tiến triển hơn.

Khi T, N và M của một người đã được xác định, thông tin này được kết hợp trong một quy trình được gọi là nhóm giai đoạn để chỉ định một giai đoạn tổng thể. Ung thư dạ dày giai đoạn sớm nhất được gọi là giai đoạn 0 (ung thư biểu mô tại chỗ), sau đó trải dài từ giai đoạn I (1) đến IV (4). Con số càng nhỏ tức là ung thư càng ít di căn.

ung thư dạ dày giai đoạn 2

Các giai đoạn của ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày giai đoạn II được chia thành giai đoạn IIA và giai đoạn IIB.

1.2.1. Giai đoạn IIA

Khi bệnh nhân đã đến giai đoạn IIA khi chẩn đoán có những đặc điểm về ung thư như sau:

  • Ung thư đã di căn đến ba đến sáu hạch bạch huyết gần đó.
  • Ung thư đã lan tới lớp cơ chính của dạ dày và một hoặc hai hạch bạch huyết gần đó.
  • Ung thư đã không lan đến các hạch bạch huyết hoặc các mô hoặc cơ quan khác, nhưng đã phát triển qua lớp cơ chính của thành dạ dày vào lớp thanh mạc dạ dày.

Trong hệ thống TNM, ung thư dạ dày giai đoạn IIA giống với một trong các hệ thống sau:

T1 N2  M0: Khối u chính đã phát triển từ lớp tế bào trên cùng của niêm mạc sang các lớp tiếp theo bên dưới như lớp đệm, cơ niêm mạc, hoặc lớp dưới niêm mạc (T1), và ung thư đã lan đến 3 đến 6 hạch bạch huyết lân cận (N2) 

T2 N1 M0: Khối u chính đang phát triển vào lớp đệm cơ (T2) và ung thư đã lan đến 1 đến 2 hạch bạch huyết lân cận (N1). Ung thư chưa di căn đến các bộ phận xa của cơ thể (M0).

T3 N0 M0: Khối u chính đang phát triển vào lớp phụ (T3). Ung thư chưa lan đến các hạch bạch huyết lân cận (N0) hoặc đến các bộ phận xa của cơ thể (M0).

Các giai đoạn của ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày giai đoạn 2A

1.2.2. Giai đoạn IIB

Bác sĩ sẽ chẩn đoán ung thư dạ dày giai đoạn IIB nếu một trong bốn điều sau đây xảy ra:

  • Ung thư  không vào lớp cơ chính nhưng nó đã lan tới bảy hoặc nhiều hạch bạch huyết lân cận
  • Ung thư đã lan đến ba đến sáu hạch bạch huyết gần đó, ngoài lớp cơ chính.
  • Ung thư đã lan từ lớp cơ chính vào lớp cơ phụ, ngoài một hoặc hai hạch bạch huyết gần đó.
  • Ung thư đã lan vào lớp thanh mạc, nhưng không lan đến bất kỳ hạch bạch huyết nào gần đó.

Trong hệ thống TNM, ung thư dạ dày giai đoạn IIB giống với một trong các hệ thống sau:

T1 N3a M0: Khối u chính đã phát triển từ lớp tế bào trên cùng của niêm mạc sang các lớp tiếp theo bên dưới như lớp đệm, cơ niêm mạc, hoặc lớp dưới niêm mạc (T1), VÀ ung thư đã lan đến 7 đến 15 hạch bạch huyết lân cận (N3a) . Ung thư chưa di căn đến các bộ phận xa của cơ thể (M0)

T2 N2 M0: Khối u chính đang phát triển vào lớp đệm cơ (T2), VÀ ung thư đã lan đến 3 đến 6 hạch bạch huyết lân cận (N2). Ung thư chưa di căn đến các bộ phận xa của cơ thể (M0).

T3 N1 M0: Khối u chính đang phát triển vào lớp phụ (T3), VÀ ung thư đã lan đến 1 đến 2 hạch bạch huyết lân cận (N1). Ung thư chưa di căn đến các bộ phận xa của cơ thể (M0).

T4a N0 M0: Khối u chính đã phát triển xuyên qua thành dạ dày vào thanh mạc, nhưng nó chưa phát triển vào bất kỳ cơ quan hoặc cấu trúc nào gần đó (T4a). Ung thư chưa lan đến các hạch bạch huyết lân cận (N0) hoặc đến các bộ phận xa của cơ thể (M0)

ung thư dạ dày giai đoạn 2A

Ung thư dạ dày giai đoạn 2B

2. Triệu chứng của ung thư dạ dày giai đoạn 2

Ung thư dạ dày giai đoạn đầu (ung thư dạ dày) hiếm khi gây ra các triệu chứng. Ở những quốc gia không thường xuyên tầm soát ung thư dạ dày, chẳng hạn như Hoa Kỳ, hầu hết ung thư dạ dày không được phát hiện cho đến khi chúng phát triển khá lớn hoặc di căn ra ngoài dạ dày.

Khi bệnh nhân chuyển từ ung thư dạ dày giai đoạn 1( không biểu hiện rõ các triệu chứng) sang ung thư dạ dày giai đoạn 2 thì tần suất xuất hiện các triệu chứng nhiều hơn với cường độ mạnh hơn. Hầu hết các triệu chứng này có nhiều khả năng là do những thứ khác ngoài ung thư dạ dày, chẳng hạn như nhiễm vi-rút hoặc loét. Một số triệu chứng này cũng có thể do các loại ung thư khác gây ra. 

Ung thư dạ dày gây ra các dấu hiệu và triệu chứng, chúng có thể bao gồm:

  • Kém ăn
  • Giảm cân (không cần cố gắng)
  • Đau bụng
  • Cảm giác khó chịu ở bụng, thường ở trên rốn
  • Cảm thấy no sau khi chỉ ăn một bữa nhỏ
  • Ợ chua hoặc khó tiêu
  • Buồn nôn
  • Nôn mửa, có hoặc không có máu
  • Sưng hoặc tích tụ chất lỏng trong bụng
  • Máu trong phân
  • Cảm thấy mệt mỏi hoặc yếu do có quá ít tế bào hồng cầu (thiếu máu)
  • Vàng da và mắt (vàng da), nếu ung thư di căn đến gan

Các triệu chứng vẫn không điển hình cho ung thư dạ dày giai đoạn 2 nên khó phát hiện bị ung thư và dễ nhầm lẫn với các bệnh khác như loét dạ dày tá tràng, viêm dạ dày thực quản, xuất huyết dạ dày… Do đó những người có bất kỳ vấn đề nào trong số này, đặc biệt là nếu chúng không biến mất hoặc trở nên tồi tệ hơn, nên đi khám bác sĩ để có thể tìm ra nguyên nhân và điều trị. 

Các triệu chứng của ung thư dạ dày giai đoạn 2

3. Chẩn đoán ung thư dạ dày giai đoạn 2

Ung thư dạ dày thường được phát hiện khi một người đi khám vì các dấu hiệu hoặc triệu chứng mà họ đang gặp phải. Nếu nghi ngờ ung thư dạ dày, sẽ cần khám và xét nghiệm để biết chắc chắn.

3.1. Khám sức khỏe

Khi xem xét tiền sử bệnh,  bác sĩ sẽ hỏi về các triệu chứng như vấn đề ăn uống, đau, đầy hơi… và các yếu tố nguy cơ có thể xảy ra để xem liệu chúng có thể gợi ý ung thư dạ dày hay nguyên nhân khác hay không. Khám sức khỏe có thể cung cấp cho bác sĩ thông tin về các dấu hiệu có thể có của ung thư dạ dày dạ dày giai đoạn 2 hoặc các vấn đề sức khỏe khác. Đặc biệt, bác sĩ sẽ sờ bụng xem có gì bất thường không.

Bác sĩ có thể yêu cầu xét nghiệm máu để tìm tình trạng thiếu máu (số lượng tế bào hồng cầu thấp). Nguyên nhân có thể do ung thư chảy máu vào dạ dày. Một xét nghiệm cũng có thể được thực hiện để tìm máu trong phân mà mắt thường không thể nhìn thấy. Đây cũng có thể là dấu hiệu của xuất huyết dạ dày.

3.2. Nội soi trên

Nội soi trên (còn gọi là nội soi thực quản hoặc EGD) là xét nghiệm thường được thực hiện nhất nếu bác sĩ cho rằng bạn có thể bị ung thư dạ dày.

Trong quá trình kiểm tra này, bác sĩ sẽ đưa một ống nội soi là một ống mỏng, linh hoạt, có ánh sáng với một máy quay video nhỏ ở đầu, đưa xuống cổ họng. Điều này cho phép bác sĩ nhìn thấy lớp niêm mạc bên trong của thực quản, dạ dày và phần đầu tiên của ruột non. Nếu các khu vực bất thường được nhìn thấy, các mẫu sinh thiết có thể được loại bỏ bằng cách sử dụng các dụng cụ đưa qua ống nội soi. Các mẫu mô được gửi đến phòng thí nghiệm, nơi chúng được xem xét bằng kính hiển vi để xem chúng có chứa ung thư hay không. Tuy nhiên cũng có một số loại ung thư dạ dày có thể khó nhìn thấy khi nội soi.

Trong một số trường hợp, nội soi có thể được sử dụng để giúp loại bỏ ung thư giai đoạn đầu. Giúp ngăn ngừa hoặc làm giảm các triệu chứng hoặc các biến chứng khác do ung thư dạ dày giai đoạn 2 mà không cần phải phẫu thuật. 

Nội soi ung thư dạ dày

3.3. Sinh thiết

Sinh thiết để kiểm tra ung thư dạ dày thường được thực hiện trong quá trình nội soi trên. Nếu bác sĩ nhìn thấy bất kỳ khu vực bất thường nào trong niêm mạc dạ dày trong quá trình nội soi, các dụng cụ có thể được đưa xuống ống nội soi để sinh thiết chúng. Trong khi sinh thiết, bác sĩ loại bỏ các mảnh nhỏ (mẫu) của khu vực bất thường.

Một số bệnh ung thư dạ dày có thể bắt đầu sâu bên trong thành dạ dày, điều này có thể khiến chúng khó sinh thiết bằng nội soi tiêu chuẩn. Nếu bác sĩ nghi ngờ ung thư có thể nằm sâu hơn trong thành dạ dày, siêu âm nội soi có thể được sử dụng để dẫn một cây kim mỏng, rỗng vào thành dạ dày để lấy mẫu sinh thiết. Các khu vực có khả năng lây lan ung thư cũng được sinh thiết như các hạch bạch huyết gần đó hoặc các khu vực nghi ngờ ở các bộ phận khác của cơ thể.

Kiểm tra mẫu sinh thiết

Các mẫu sinh thiết được gửi đến phòng thí nghiệm để được xem xét dưới kính hiển vi. Các mẫu được kiểm tra để xem chúng có chứa ung thư hay không và nếu có thì đó là loại gì (ví dụ: ung thư biểu mô tuyến lan tỏa hoặc ruột, khối u carcinoid, khối u mô đệm đường tiêu hóa [GIST] hoặc ung thư hạch). Nếu ung thư dạ dày giai đoạn 2 được phát hiện, có thể thực hiện các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm trên các mẫu sinh thiết để tìm hiểu thêm về các tế bào ung thư. Điều này liên quan đến cách điều trị ung thư.

Xét nghiệm HER2

Các tế bào ung thư có thể được kiểm tra để xem liệu chúng có chứa quá nhiều protein thúc đẩy tăng trưởng được gọi là HER2 hay không. Ung thư có nồng độ HER2 tăng lên được gọi là HER2 dương tính. Những bệnh ung thư này có thể được điều trị bằng các loại thuốc nhắm vào protein HER2.

Mẫu sinh thiết thường được kiểm tra HER2 bằng cách sử dụng hóa mô miễn dịch (IHC) hoặc lai huỳnh quang tại chỗ (FISH). Thường thì bài kiểm tra IHC được sử dụng đầu tiên, cho kết quả trên thang điểm từ 0 đến 3+.

  • Nếu kết quả là 0 hoặc 1+, ung thư âm tính với HER2, vì vậy các loại thuốc nhắm mục tiêu HER2 không có khả năng hữu ích.
  • Nếu xét nghiệm cho kết quả 3+, ung thư dương tính với HER2, do đó, điều trị bằng thuốc nhắm mục tiêu HER2 có thể là một lựa chọn.
  • Khi kết quả là 2+, tình trạng HER2 của ung thư không rõ ràng, vì vậy cần phải xét nghiệm với FISH để làm rõ kết quả.
  • Kiểm tra các thay đổi gen hoặc protein khác: Tế bào ung thư cũng có thể được xét nghiệm để tìm các thay đổi gen hoặc protein khác có thể ảnh hưởng đến việc điều trị. 

3.4. Xét nghiệm hình ảnh

Các xét nghiệm hình ảnh sử dụng tia X, từ trường, sóng âm thanh hoặc chất phóng xạ để tạo ra hình ảnh bên trong cơ thể bạn. Các xét nghiệm hình ảnh có thể được thực hiện vì một số lý do, bao gồm:

  • Tìm ra khu vực đáng ngờ có thể là ung thư hay không
  • Tìm hiểu ung thư có thể đã lây lan bao xa
  • Giúp xác định xem điều trị có hiệu quả hay không

3.4.1. Loạt đường tiêu hóa trên (GI)

Đây là một xét nghiệm chụp X-quang để xem xét lớp niêm mạc bên trong của thực quản, dạ dày và phần đầu tiên của ruột non. Xét nghiệm này ít được sử dụng hơn nội soi trên để tìm ung thư dạ dày hoặc các vấn đề về dạ dày khác, vì nó có thể bỏ sót một số khu vực bất thường và nó không cho phép bác sĩ lấy mẫu sinh thiết. Vì loạt đường tiêu hóa trên ít xâm lấn hơn nội soi do đó có thể hữu ích trong một số trường hợp.

Đối với thử nghiệm này, bệnh nhân được cho uống một dung dịch phấn trắng có chứa một chất gọi là bari. Bari bao phủ lớp lót bên trong của thực quản, dạ dày và ruột non. (Lúc này, không khí cũng có thể được bơm vào dạ dày qua một ống mỏng.) Sau đó, một số hình ảnh chụp X-quang được chụp. Bởi vì tia X không thể đi qua lớp phủ bari, điều này phác thảo bất kỳ khu vực bất thường nào trong lớp niêm mạc của các cơ quan này.

Hình ảnh loạt đường tiêu hóa trên xét nghiệm ung thư dạ dày

3.4.2. Chụp cắt lớp vi tính (CT hoặc CAT)

Chụp CT sử dụng tia X để tạo ra hình ảnh chi tiết, mặt cắt của các mô mềm trong cơ thể. Chụp CT có thể cho thấy dạ dày khá rõ ràng và thường có thể xác nhận vị trí của ung thư. Chụp CT cũng có thể cho thấy các bộ phận khác của cơ thể mà ung thư dạ dày có thể đã lây lan, chẳng hạn như gan và các hạch bạch huyết lân cận. Điều này có thể giúp xác định mức độ (giai đoạn) của ung thư và nếu phẫu thuật có thể là một lựa chọn điều trị tốt.

Chụp CT cũng có thể được sử dụng để hướng kim sinh thiết vào khu vực nghi ngờ có sự lây lan của ung thư. Đối với xét nghiệm này, bạn sẽ nằm trên bàn chụp CT trong khi bác sĩ di chuyển kim sinh thiết qua da về phía khối u. Chụp CT được lặp lại cho đến khi kim nằm trong khối lượng. Mẫu sinh thiết sau đó được lấy ra và gửi đến phòng thí nghiệm để thử nghiệm.

3.4.3. Siêu âm nội soi

Siêu âm nội soi (EUS) thường được sử dụng để xem mức độ di căn của ung thư vào thành dạ dày, vào các khu vực lân cận hoặc các hạch bạch huyết gần đó.

Đối với xét nghiệm này, một đầu dò siêu âm nhỏ được đặt trên đầu ống nội soi. Trong khi bạn đang dùng thuốc an thần, ống nội soi sẽ được truyền xuống cổ họng của bạn và vào dạ dày. Đầu dò được đưa lên thành dạ dày nơi có ung thư. Nó phát ra sóng âm thanh và phát hiện tiếng vọng khi chúng dội lại, sau đó được chuyển đổi thành hình ảnh. Các bác sĩ có thể sử dụng những hình ảnh này để xem xét các lớp của thành dạ dày, cũng như các hạch bạch huyết gần đó và các cấu trúc ở bên ngoài dạ dày.

EUS cũng có thể được sử dụng để giúp hướng kim vào khu vực nghi ngờ để lấy mẫu sinh thiết (được gọi là sinh thiết kim có hướng dẫn của EUS).

3.4.4. Chụp cắt lớp phát xạ Positron (PET)

Chụp PET có thể hữu ích để giúp xác định mức độ ung thư trong cơ thể. Đối với xét nghiệm này, bạn được tiêm một dạng đường phóng xạ nhẹ, chủ yếu thu thập trong các tế bào ung thư. Một máy ảnh đặc biệt sau đó được sử dụng để tạo ra hình ảnh về các khu vực phóng xạ trong cơ thể. Hình ảnh không chi tiết như chụp CT hoặc MRI, nhưng chụp PET có thể tìm kiếm các khu vực có khả năng lây lan của ung thư ở tất cả các khu vực của cơ thể cùng một lúc.

Nhiều máy mới hơn có thể chụp PET và CT cùng một lúc (PET / CT scan) cho phép bác sĩ nhìn thấy các khu vực “sáng lên” trên chụp PET chi tiết hơn.

Mặc dù quét PET có thể hữu ích để tìm các khu vực lây lan của ung thư. Nhưng chúng không phải lúc nào cũng hữu ích trong một số loại ung thư dạ dày vì một số loại không chiếm nhiều đường phóng xạ.

3.3.5. Chụp cộng hưởng từ (MRI)

Giống như chụp CT, MRI có thể hiển thị hình ảnh chi tiết của các mô mềm trong cơ thể. Nhưng MRI sử dụng sóng vô tuyến và nam châm mạnh thay vì tia X. Xét nghiệm này không được sử dụng thường xuyên như chụp CT để tìm ung thư dạ dày, nhưng nó có thể hữu ích trong một số trường hợp nhất định, chẳng hạn như khi tìm các khối u trong gan.

3.4.6. X quang ngực

Xét nghiệm này có thể giúp cho biết ung thư đã di căn đến phổi hay chưa. Nó cũng có thể được sử dụng để giúp xác định xem một người có bất kỳ bệnh phổi hoặc tim nghiêm trọng nào, có thể ảnh hưởng đến việc phẫu thuật có phải là một lựa chọn điều trị hay không. Chụp X quang phổi không cần thiết nếu chụp CT đã được thực hiện.

3.5. Một số  xét nghiệm khác 

3.5.1. Nội soi ổ bụng

Nếu ung thư dạ dày đã được phát hiện và các xét nghiệm hình ảnh như chụp CT hoặc PET không cho thấy nó đã di căn sang các bộ phận khác của cơ thể, các bác sĩ có thể tiến hành nội soi ổ bụng trước khi thực hiện bất kỳ cuộc phẫu thuật nào khác. Nội soi ổ bụng giúp xác nhận ung thư vẫn chỉ ở trong dạ dày, có nghĩa là phẫu thuật để loại bỏ nó vẫn có thể là một lựa chọn.

Quy trình này được thực hiện trong phòng phẫu thuật khi bệnh nhân đang được gây mê toàn thân. Một ống nội soi (một ống mỏng, linh hoạt với một máy quay video nhỏ ở đầu) được đưa vào qua một vết cắt nhỏ ở bụng. Cho phép bác sĩ quan sát kỹ bề mặt của các cơ quan và các hạch bạch huyết lân cận bên trong bụng, hoặc thậm chí loại bỏ các mẫu mô nhỏ, sau đó có thể xét nghiệm ung thư. Nếu không có vẻ như ung thư đã lan rộng, đôi khi bác sĩ sẽ “rửa” bụng bằng nước muối (nước muối) hay được gọi là rửa phúc mạc. Chất lỏng sau đó được thu thập và kiểm tra các tế bào ung thư. Đôi khi nội soi ổ bụng được kết hợp với siêu âm để cho hình ảnh tốt hơn về ung thư.

3.5.2. Kiểm tra chức năng cơ quan

Nếu ung thư được phát hiện, bác sĩ có thể đề nghị một số xét nghiệm trong phòng thí nghiệm, đặc biệt nếu phẫu thuật có thể là một lựa chọn. Ví dụ, các xét nghiệm máu sẽ được thực hiện để đảm bảo gan và thận đang hoạt động bình thường và máu đông bình thường.

4. Điều trị ung thư dạ dày giai đoạn 2

Giai đoạn ung thư giúp bác sĩ quyết định bệnh nhân cần điều trị gì. Điều trị cũng phụ thuộc vào:

  • loại ung thư  (loại tế bào mà bệnh ung thư bắt đầu)
  • nơi ung thư trong dạ dày 
  • các tình trạng sức khỏe khác

Thông thường bệnh nhân phải phẫu thuật để cắt bỏ toàn bộ hoặc một phần dạ dày của mình. Và phải hóa trị trước và sau phẫu thuật. 

Nếu bệnh nhân chưa hóa trị trước khi phẫu thuật thì có thể điều trị:

  • hóa trị kết hợp với xạ trị (hóa trị liệu) sau phẫu thuật
  • hóa trị sau khi phẫu thuật 

Hóa trị liệu ung thư dạ dày

5. Kết luận

Ung thư dạ dày giai đoạn 2 mặc dù đã tiến triển phức tạp nhưng các khối u vẫn chưa di căn và mật độ khối u còn nhỏ nên có thể chữa khỏi được. Tuy nhiên ung thư dạ dày giai đoạn 2 lại dễ tái phát hơn giai đoạn 1 sau khi được chữa khỏi. Do đó bệnh nhân cần khám kịp thời và theo đúng lộ trình điều trị của bác sĩ chuyên môn. Nếu bạn có bất cứ thắc mắc gì về bệnh ung thư dạ dày giai đoạn 2 và các bệnh lý khác liên quan đến dày, hãy liên hệ ngay HOTLINE 1800.6091 để được tư vấn MIỄN PHÍ về tình trạng dạ dày đang gặp phải từ các bác sĩ, dược sĩ chuyên gia để hạn chế các biến chứng nguy hiểm.

Share this post


Contact Me on Zalo
1800 6091