VIÊM DẠ DÀY RUỘT CẤP Ở TRẺ EM-CÁCH XỬ TRÍ

VIÊM DẠ DÀY RUỘT CẤP Ở TRẺ EM-CÁCH XỬ TRÍ

Mỗi năm có hàng triệu ca tử vong ở trẻ nhỏ do viêm dạ dày ruột cấp gây ra. Tác nhân gây bệnh bao gồm virus, vi khuẩn, động vật nguyên sinh… Trong đó, virus là nguyên nhân chính, chiếm tỷ lệ lớn tổng số trẻ em mắc bệnh. Mất nước, rối loạn điện giải và nhiễm toan chuyển hóa là những biến chứng nguy hiểm thường gặp. Vậy bệnh viêm dạ dày ruột cấp là gì? Nên xử trí như nào khi trẻ mắc bệnh? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn giải quyết các vấn đề đáng quan tâm này.

1. Nguyên nhân gây viêm dạ dày ruột cấp

Viêm dạ dày ruột là tình trạng viêm màng nhầy của đường tiêu hóa, được đặc trưng bởi tiêu chảy hoặc nôn mửa. Ngoài ra, có thể kèm theo sốt, đau bụng và chán ăn.

Một số nguyên nhân chủ yếu gây bệnh có thể kể đến như: virus, vi khuẩn, động vật nguyên sinh, giun sán…

1.1 Virus

Virus là căn nguyên quan trọng nhất, gây ra khoảng 70% tổng số đợt viêm dạ dày ruột cấp tính ở trẻ em. Tính đến nay, có hơn 20 loại virus khác nhau đã được xác định là tác nhân gây bệnh. Trong đó, Rotavirus và Norovirus là 2 nguyên nhân phổ biến nhất. Các loại virus phổ biến khác gây viêm dạ dày ruột bao gồm calicivirus, adenovirus và astrovirus.

1.1.1. Rotavirus

viem-da-day-ruot-cap1

Rotavirus-tác nhân gây viêm dạ dày ruột cấp hàng đầu ở trẻ em

Nhiễm Rotavirus xảy ra quanh năm ở vùng nhiệt đới và theo mùa ở các vùng khí hậu ôn đới, đạt đỉnh điểm vào cuối mùa đông. Độ tuổi có tỷ lệ lây nhiễm cao nhất là từ 6 tháng tuổi đến 2 tuổi. 

Cơ chế sinh bệnh của Rotavirus rất phức tạp, có thể xảy ra bao gồm kém hấp thu do tổn thương niêm mạc, bài tiết độc tố ruột của virus và tiết dịch ruột để phản ứng với virus. Rotavirus làm tăng bài tiết chất điện giải từ ruột non và giảm khả năng vận chuyển glucose của các chất điện giải này.

1.1.2. Norovirus

Norovirus xâm nhập vào cơ thể gây ra những thay đổi mô bệnh học ở hỗng tràng của những nhung mao bị cùn với niêm mạc còn nguyên vẹn. Từ đó dẫn đến tình trạng tiêu chảy ở những đối tượng bị nhiễm loại virus này.  Những thay đổi này xảy ra nhanh chóng và thường hết sau hai tuần kể từ khi phát bệnh. Đặc biệt, trường hợp này không có sự sản sinh độc tố ruột như Rotavirus.

1.2. Vi khuẩn

viem-da-day-ruot-cap2

Vi khuẩn gây viêm dạ dày ruột cấp tính

Nhiễm khuẩn chiếm 10% đến 20% các trường hợp viêm dạ dày ruột cấp tính. Các nguyên nhân vi khuẩn gây bệnh phổ biến là:

  • Campylobacter jejuni
  • Salmonella không thương hàn
  • Enteropathogenic Escherichia coli
  • Shigella
  • Yersinia enterocolitica
  • Độc tố Shiga tạo ra E.coli
  • Salmonella typhi và S.paratyphi
  • Vibrio cholerae 

Vibrio cholerae là nguyên nhân chính gây ra bệnh tiêu chảy, đặc biệt là khi vấn đề an toàn vệ sinh không đảm bảo. 

Viêm dạ dày ruột cấp mắc phải từ người này sang người khác do lây lan qua đường hô hấp hoặc ăn phải thức ăn và đồ uống bị ô nhiễm. Các loại thức ăn được chế biến hay bảo quản không đúng cách là những nguồn vi khuẩn gây bệnh phổ biến. Ăn phải thực phẩm có chứa độc tố do vi khuẩn gây ô nhiễm sẽ gây nôn mửa hoặc tiêu chảy. Ví dụ, Staphylococcus aureus trong kem, Bacillus cerus trong cơm hâm nóng… Nước có thể bị nhiễm vi khuẩn, virus hoặc động vật nguyên sinh, gây bệnh lỵ amip.

1.3. Động vật nguyên sinh và giun sán

Các động vật nguyên sinh gây viêm dạ dày ruột cấp thường gặp như: Cryptosporidium, Giardia lamblia, Entamoeba histolytica. Trong đó, Giardia lamblia là đơn bào gây bệnh phổ biến nhất, mặc dù nó có xu hướng liên quan đến tiêu chảy dai dẳng hơn.

2. Biến chứng của viêm dạ dày ruột cấp

viem-da-day-ruot-cap3

Biến chứng của viêm dạ dày ruột cấp

Viêm dạ dày ruột cấp là một trong những nguyên nhân gây tử vong mỗi năm ở trẻ nhỏ. Bệnh sẽ ngày càng nghiêm trọng nếu trẻ không được phát hiện và điều trị kịp thời và gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm:

  • Mất nước
  • Nhiễm toan chuyển hóa
  • Rối loạn điện giải 
  • Không dung nạp carbohydrate (lactose, glucose)
  • Khả năng tái nhiễm
  • Không dung nạp thực phẩm (sữa bò, đậu nành…)
  • Hội chứng tan máu
  • Biến chứng thiếu máu (do thành phần hoặc lượng dịch truyền tĩnh mạch không phù hợp)
  • Tử vong

Mất nước, nhiễm toan chuyển hóa và rối loạn điện giải là các biến chứng nguy hiểm và thường gặp nhất. Nguy cơ mắc các biến chứng này cao hơn ở những trẻ có chế độ dinh dưỡng kém.

Trẻ bị viêm dạ dày ruột do vi khuẩn dễ bị sốt cao, có thể thấy máu và bạch cầu trong phân. Nhiễm độc tố Shiga tạo ra E.coli hoặc Shingella dysenteriae có thể gây viêm đại tràng xuất huyết, có thể biến chứng thành hội chứng tan máu. Hội chứng này phổ biến toàn thế giới và được đặc trưng bởi sự khởi phát cấp tính của bệnh thiếu máu tan máu vi thể, giảm tiểu cầu, suy thận cấp…

Nhiễm Salmonella không thương hàn đôi khi có ảnh hưởng đến thần kinh trung ương, bao gồm bệnh não. 

3. Nhận biết viêm dạ dày ruột cấp ở trẻ em dựa vào những dấu hiệu nào?

viem-da-day-ruot-cap4

Dựa vào những dấu hiệu nào để nhận biết viêm dạ dày ruột cấp?

Bạn có thể nhận biết trẻ có bị viêm dạ dày ruột cấp hay không dựa vào các triệu chứng điển hình của bệnh. Ngoài triệu chứng chính là tiêu chảy, một số dấu hiệu có thể xuất hiện trên bệnh nhân như:

  • Buồn nôn, ói mửa
  • Đau bụng và chuột rút
  • Sốt nhẹ và ớn lạnh
  • Ăn không ngon
  • Nhức đầu, mệt mỏi
  • Trẻ sơ sinh bú kém

Trẻ mắc bệnh do nhiễm Rotavirus thường có biểu hiện nôn mửa cấp tính, sau đó là tiêu chảy vài ngày, đau bụng quặn, biếng ăn và sốt nhẹ. Norovirus biểu hiện phổ biến nhất với các cơn đau quặn bụng và buồn nôn, sau đó là nôn và / hoặc tiêu chảy. Khởi phát có thể đột ngột. Các triệu chứng cũng bao gồm đau mỏi cơ, khó chịu và sốt nhẹ lên đến 39 độ C. Tiêu chảy không có máu và có thể bao gồm nhiều lần đi tiêu mỗi ngày. 

Các triệu chứng có thể xuất hiện trong vòng một đến ba ngày sau khi nhiễm trùng. Chúng thường kéo dài một hoặc hai ngày, đôi khi kéo dài đến mười ngày. Nếu các dấu hiệu trên kéo dài hơn khoảng năm ngày hay tình trạng bệnh ngày càng nghiêm trọng hơn, các mẹ nên lưu ý đưa bé đến gặp bác sĩ. 

Đặc biệt, bạn có thể nhận biết bệnh dựa vào dấu hiệu mất nước. Bởi đây là biến chứng thường gặp sớm ở trẻ bị viêm dạ dày ruột cấp. Các triệu chứng của mất nước bao gồm:

  • Khát nước cực độ
  • Không đi tiểu trong 8 giờ hoặc chỉ đi một lượng nhỏ
  • Nước tiểu có mùi sẫm và có mùi hôi
  • Môi và miệng khô
  • Tay chân lạnh 
  • Má hoặc mắt trũng
  • Da kém đàn hồi khi véo

4. Cách xử trí viêm dạ dày ruột cấp

viem-da-day-ruot-cap5

Cách xử trí viêm dạ dày ruột cấp

Mất nước là biến chứng nghiêm trọng chính của bệnh viêm dạ dày ruột cấp. Để kiểm soát bệnh một cách an toàn và hiệu quả, cần phải đánh giá mức độ mất nước của bệnh nhân. Đây là yếu tố quan trọng phản ánh mức độ nghiêm trọng của bệnh.

4.1. Điều trị viêm dạ dày ruột cấp tính dựa trên mức độ mất nước

Điều trị nên bao gồm 2 giai đoạn: bù nước và duy trì. Trong giai đoạn bù nước, lượng chất lỏng thiếu hụt sẽ được thay thế nhanh chóng và đạt được sự hydrat hóa trên lâm sàng . Trong giai đoạn duy trì, lượng calo và chất lỏng duy trì được sử dụng.

4.1.1. Mất nước tối thiểu 

Đối với những bệnh nhân bị mất nước tối thiểu hoặc không, việc điều trị là nhằm cung cấp đủ chất lỏng và tiếp tục chế độ ăn phù hợp với lứa tuổi. Bệnh nhân bị tiêu chảy phải được tăng lượng nước uống để bù đắp lượng nước đã mất. Việc sử dụng ORS được khuyến khích trong trường hợp này.

Về nguyên tắc, nên dùng 1 ml dịch cho mỗi gam đầu ra. Tức là có thể truyền 10ml chất lỏng bổ sung cho mỗi kg trọng lượng cơ thể cho mỗi lần phân có nước hoặc 2ml/kg trọng lượng cơ thể cho mỗi đợt nôn. Thay vào đó, trẻ em cân nặng dưới 10kg nên được dùng 60-120ml ORS cho mỗi lần nôn hay tiêu chảy, còn những trẻ nặng trên 10kg nên được dùng 120-240 ml.

4.1.2. Mất nước nhẹ đến trung bình

Trẻ bị mất nước nhẹ đến trung bình nên được thay thế nhanh chóng lượng chất lỏng thiếu hụt ước tính của chúng. Khuyến cáo sử dụng 50-100ml ORS / kg trọng lượng cơ thể trong vòng 2-4 giờ. 

Một số trẻ bị mất nước nhẹ đến trung bình không cải thiện với liệu pháp bù nước bằng đường uống (ORT). Do đó, cần quan sát đến khi các dấu hiệu mất nước giảm dần.

4.1.3. Mất nước nghiêm trọng

Đây là một trường hợp khẩn cấp, cần bù nước qua đường tĩnh mạch ngay lập tức. Nên dùng dung dịch Ringer (LR), nước muối thông thường hoặc dung dịch tương tự (20ml/kg thể trọng) cho đến khi mạch, tưới máu và trạng thái tinh thần trở lại bình thường. Bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ trong giai đoạn này và các dấu hiệu sinh tồn cần được theo dõi thường xuyên.

Những bệnh nhân bị mất nước nghiêm trọng có thể phải truyền nhiều dịch liên tiếp trong thời gian ngắn. Ngay sau khi mức độ ý thức của bệnh nhân trở lại bình thường, liệu pháp có thể được đổi sang đường uống.

4.2. Liệu pháp ăn kiêng

Các khuyến cáo về liệu pháp ăn kiêng duy trì phụ thuộc vào tuổi và tiền sử ăn kiêng của bệnh nhân. Tiếp tục cho trẻ ăn uống theo chế độ bình thường để đảm bảo nhu cầu năng lượng và dinh dưỡng.

Một số trẻ suy dinh dưỡng hay mất nước nghiêm trọng sẽ phục hồi nhanh hơn khi sử dụng thực phẩm không chứa lactose hay giảm lactose. Nhưng một phân tích tổng hợp các thử nghiệm lâm sàng chỉ ra rằng sữa không chứa lactose không có lợi hơn sữa có lactose ở trẻ sơ sinh. Vì thế, sử dụng các công thức không chứa lactose hay giảm lactose thường là không cần thiết. 

Nên tránh các thực phẩm giàu đường đơn. Vì tải trọng thẩm thấu có thể làm trầm trọng hơn tình trạng tiêu chảy ở trẻ. Do đó, nên hạn chế một lượng đáng kể nước ngọt có ga, nước trái cây và các đồ uống chứa nhiều đường khác.

Cần bổ sung chất dinh dưỡng cho trẻ sau khi tiêu chảy, tránh tăng tần suất và mức độ nghiêm trọng của các đợt tiêu chảy sau đó. Khuyến cáo thực hiện chế độ ăn không hạn chế phù hợp với lứa tuổi, bao gồm: carbohydrate phức hợp, thịt, sữa chua, trái cây và rau. Tốt nhất là trẻ nên được duy trì calo hấp thụ trong các đợt cấp tính. Sau đó, bổ sung dinh dưỡng để bù đắp cho bất kì sự thiếu hụt nào phát sinh trong thời gian bị bệnh.

4.3. Liệu pháp dược lý

4.3.1. Điều trị bằng thuốc kháng sinh

Thuốc kháng sinh không được chỉ định trong viêm dạ dày ruột cấp do virus hoặc vi khuẩn không biến chứng và có thể gây hại. Trong các trường hợp nhiễm khuẩn Salmonella không phải thương hàn, thuốc kháng sinh sẽ làm tăng nguy cơ vận chuyển kéo dài, gây tái phát bệnh. Điều trị viêm dạ dày ruột do E coli sinh độc tố Shiga bằng kháng sinh có thể làm tăng nguy cơ mắc hội chứng tan máu. Tuy nhiên, trường hợp bệnh viêm dạ dày ruột do vi khuẩn phức tạp trong bệnh tả, nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng amip, bệnh giardia… thì việc sử dụng thuốc kháng sinh là cần thiết.

4.3.2. Điều trị bằng thuốc không vi trùng

Thuốc chống tiêu chảy và thuốc chống nôn không được chỉ định thường quy vì các tác dụng phụ của nó. 

Năm 1996, AAP đã đưa ra tuyên bố như sau: “Ủy ban đã không đánh giá việc sử dụng thuốc chống nôn. Ý kiến ​​đồng thuận là không cần dùng thuốc chống nôn. Các bác sĩ cảm thấy rằng liệu pháp chống nôn được chỉ định trong một tình huống nhất định nên nhận thức được các tác dụng phụ có thể xảy ra ”. Năm 2003, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) đã đưa ra một tuyên bố cập nhật về việc sử dụng thuốc chống nôn. Nó cũng kết luận rằng thuốc chống nôn thường không cần thiết. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có khuyến cáo chính thức về việc sử dụng chúng. Vì thế thuốc chống nôn vẫn thường được kê đơn giữa các chuyên khoa và các quốc gia khác nhau trong việc điều trị viêm dạ dày ruột cấp tính.

Thuốc chống nôn thường được sử dụng vì nôn mửa là một triệu chứng khó chịu, có thể làm tăng khả năng mất nước, mất cân bằng điện giải, và quan trọng nhất là phải truyền dịch qua đường tĩnh mạch hoặc nhập viện. Thuốc chống nôn không được khuyến khích phổ biến đối với nôn mửa liên quan đến viêm dạ dày ruột bởi nôn chỉ là một phản ứng sinh lý bình thường để loại bỏ các chất độc hại trong cơ thể. Hơn nữa, thuốc chống nôn cũng có tác dụng phụ bất lợi. 

4.4. Liệu pháp bổ sung kẽm

Nhiều báo cáo cho thấy tiêu chảy và tình trạng bất thường của kẽm có mối liên quan với nhau. Sự thiếu hụt kẽm đóng một vai trò quan trọng trong tiêu chảy ở trẻ em. Vì thế, việc bổ sung kẽm có thể cải thiện được tình trạng tiêu chảy ở những trẻ bị viêm dạ dày ruột cấp. 

Hiệu quả rút ngắn thời gian tiêu chảy cấp sau khi bổ sung kẽm ở bệnh nhân đã được nhiều nghiên cứu chứng minh. Ở Bangladesh, bổ sung kẽm giúp cải thiện về tính thẩm thấu của ruột ở trẻ bị tiêu chảy. Ở Ấn Độ, nhờ bổ sung kẽm mà lượng phân lỏng mỗi ngày và số ngày bị tiêu chảy có dấu hiệu giảm đáng kể. 

4.5. Thực phẩm chức năng

Probiotics là một loại vi sinh vật sống trong thực phẩm lên men giúp tăng cường sức khỏe tối ưu bằng cách cải thiện hệ vi sinh đường ruột. Các nghiên cứu về việc sử dụng chúng với mục đích ngăn ngừa hay giảm mức độ nghiêm trọng tình trạng tiêu chảy ở trẻ em đã được đánh giá. 

Các sản phẩm này bao gồm nhiều loài lactobacilli, bifidobacteria hoặc nấm men không gây bệnh Saccharomyces boulardii. Cơ chế hoạt động có thể là cạnh tranh với vi khuẩn gây bệnh để tìm vị trí thụ thể hoặc chất dinh dưỡng trong ruột. Từ đó các chất kháng sinh được tạo ra làm tăng cường khả năng miễn dịch của vật chủ.

5. Có thể phòng ngừa viêm dạ dày ruột cấp không?

viem-da-day-ruot-cap6

Phòng ngừa viêm dạ dày ruột cấp

Bệnh viêm dạ dày ruột thường lây lan qua đường phân-miệng. Trẻ có thể bị nhiễm bệnh từ vi khuẩn có trong các loại thực phẩm chưa nấu chín, trái cây và rau xanh chưa rửa, và nước bị ô nhiễm bởi phân động vật. Hay cũng có thể mắc phải từ các nguồn môi trường, chẳng hạn như trang trại động vật dành cho trẻ em, hồ bơi và bãi biển. 

Bởi thế, vệ  sinh tốt là điều quan trọng để ngăn ngừa sự lây lan của nhiễm trùng. Điều này bao gồm rửa tay cẩn thận, vứt bỏ tã lót, chế biến và bảo quản thực phẩm, nước uống theo hướng dẫn năm bước của WHO về thực phẩm an toàn. Vệ sinh là vấn đề đặc biệt quan trọng trong các cơ sở, bao gồm cả bệnh viện – nơi nhiễm trùng bệnh viện phổ biến.

Một tiến bộ lớn gần đây trong công tác phòng ngừa là việc phát triển và cấp phép hai loại vacxin virus rota đường uống. Tính an toàn và hiệu quả của chúng đã được xác nhận trong các thử nghiệm quy mô lớn, mỗi thử nghiệm trên 60.000 trẻ em.

Rotateq (Merck) là một loại vắc xin tái phân loại ba liều sống giữa người và bò. Rotarix (GSK) là vacxin đơn trị hai liều giảm độc lực cho người (chủng G1P). Cả hai loại vắc xin này đều có tính sinh miễn dịch cao. Chúng cung cấp sự bảo vệ chéo chống lại các loại huyết thanh phổ biến và giảm tỷ lệ viêm dạ dày ruột nặng, nhu cầu truyền dịch tĩnh mạch và nhập viện. Điều quan trọng là cả hai đều không liên quan đến các tác dụng phụ đáng kể hoặc tăng nguy cơ lồng ruột. Điều này đã được thấy ở loại vắc xin đầu tiên được cấp phép, RotaShield. 

Kết luận

Bệnh viêm dạ dày ruột cấp là một bệnh đường tiêu hóa thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tiêu chảy và nôn mửa. Nguyên nhân chủ yếu gây bệnh là virus, vi khuẩn… Nếu không điều trị kịp thời sẽ gây ra các biến chứng nguy hiểm như: mất nước, rối loạn điện giải, nhiễm toan hóa và thậm chí là tử vong. Có thể phòng ngừa viêm dạ dày ruột cấp bằng biện pháp vệ sinh hay tiêm vaccin. Đặc biệt, khi trẻ mắc bệnh, xử trí bằng các liệu pháp bù nước, bổ sung kẽm…

Trên đây là một số thông tin về bệnh viêm dạ dày ruột cấp ở trẻ em được các Dược sĩ, Bác sĩ Scurma Fizzy cung cấp. Hi vọng những thông tin này hữu ích cho bạn và có thể phòng ngừa và xử trí kịp thời khi trẻ mắc bệnh.

Liên hệ ngay HOTLINE 18006091 để được đội ngũ Dược sĩ, Bác sĩ Scurma Fizzy tư vấn về tình trạng viêm dạ dày cấp ở trẻ và nhận được những lời khuyên hữu ích.

Tài liệu tham khảo

  1. Elizabeth Jane Elliott, Kỷ luật Nhi khoa và Sức khỏe Trẻ em, Đại học Sydney, Sydney 2006, NSW, Úc. Viêm dạ dày ruột cấp tính ở trẻ em [PMC]
  2. Quản lý viêm dạ dày ruột cấp tính ở trẻ em. Liệu pháp bù nước, duy trì và dinh dưỡng bằng đường uống [CDC]
  3. Nathan D. Stuempig; Justin Seroy. Viêm dạ dày ruột do virus [sách]
  4. Saud Bin Abdul Sattar; Shashank Singh. Viêm dạ dày ruột do vi khuẩn [sách]

Share this post


Contact Me on Zalo
1800 6091