Triệu chứng loét dạ dày là gì? Loét dạ dày tá tràng có nguy hiểm không?

Triệu chứng loét dạ dày là gì? Loét dạ dày tá tràng có nguy hiểm không?

Triệu chứng loét dạ dày là gì?Loét dạ dày tá tràng có nguy hiểm không?

Bệnh loét dạ dày tá tràng là một bệnh đa yếu tố và phức tạp liên quan đến loét dạ dày và tá tràng. Trong nhiều năm, loét dạ dày tá tràng được coi là một trong những lý do chính dẫn đến phẫu thuật đường tiêu hóa, do tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao. Bệnh loét dạ dày tá tràng ảnh hưởng đến nhiều người trên toàn thế giới, và là một trong những bệnh phổ biến nhất của thế kỷ XXI. Loét dạ dày được coi là một trong những bệnh rối loạn dạ dày tá tràng phổ biến nhất ở người trên thế giới. Do vậy, kiến thức về loét dạ là cần thiết đối với mỗi chúng ta trong cuộc sống. Hiểu biết về nguyên nhân, triệu chứng loét dạ dày tá tràng cũng như cách phòng và điều trị giúp chúng ta ngăn chặn sớm bệnh và nâng cao chất lượng cuộc sống.

triệu chứng loét dạ dày

Loét dạ dày tá tràng – mối nguy ngại ngày càng gia tăng.

1.Bệnh loét dạ dày tá tràng được hiểu như thế nào?

1.1 Khái niệm loét dạ dày.

Viêm loét dạ dày là tình trạng niêm mạc dạ dày bị tổn thương gây đau đớn, có thể gây tàn phế, thậm chí nghiêm trọng hơn là thủng dạ dày và xuất huyết nội tạng. Đây là một bệnh đặc trưng bởi một tổn thương gây đau đớn, kéo dài ít nhất là đến niêm mạc cơ của thành dạ dày và / hoặc tá tràng, và hiếm hơn là ở phần dưới của thực quản gần với tâm vị . Nó có thể làm thủng dạ dày, thậm chí nghiêm trọng hơn nếu dạ dày bị thủng, dẫn đến chảy máu trong và có thể dẫn đến tử vong nếu không được điều trị khẩn cấp.

1.2 Phân biệt loét dạ dày và loét tá tràng.

Đa số chúng ta thường gọi chung là viêm loét dạ dày tá tràng, do sự lầm lẫn đây là một bệnh. Tuy nhiên, trên thực tế đây là hai bệnh: loét dạ dày và loét tá tràng. Vậy yếu tố để phân biệt được hai bệnh này là gì? Ở đây chúng tôi đề cập đến hai chú ý đơn giản, đặc trưng để phân biệt hai bệnh này dựa vào thời gian đau và vị trí ổ loét.

1.2.1 Thời gian đau.

  • Loét dạ dày: đau lúc no, thường sau ăn 15-30 phút do lúc này thức ăn đã được di chuyển xuống dạ dày, cơn đau kéo dài khoảng 1-2 tiếng đồng hồ.
  • Loét tá tràng: đau khi đói, do lúc này thức ăn đã được đẩy từ dạ dày xuống tá tràng, thường rơi vào khoảng 3-4 tiếng sau ăn.

1.2.2 Vị trí ổ loét.

  • Loét dạ dày thường đau chủ yếu ở vùng bụng giữa hoặc hơi lệch về phía bên trái.
  • Loét tá tràng thường đau thiên về bên phải nhiều hơn.

1.3 Giải phẫu dạ dày và tá tràng.

giải phẫu dạ dày tá tràng

Giải phẫu dạ dày và tá tràng.

1.3.1 Cấu tạo giải phẫu của dạ dày.

Dạ dày là đoạn phình to của ống tiêu hóa, nối thực quản với tá tràng, nằm sát dưới vòm hoành trái. Phần đa dạ dày nằm ở bên trái của đường chính giữa bụng (vùng hạ sườn trái), chỉ một phần ứng với thượng vị và hạ sườn phải.

Dạ dày rất co giãn, dễ di động, có thể tích từ 2 đến 2,5 lít hoặc hơn nữa do vậy không có hình dáng nhất định. Khi rỗng, dạ dày giống hình chữ J. Tuy nhiên, hình dạng dạ dày tùy thuộc vào lượng thức ăn, tư thế cơ thể, kích thước lồng ngực, tuổi, giới tính, sức co bóp và líc quan sát.

Kể từ trên xuống, dạ dày gồm các phần:

  • Tâm vị: là vùng rộng 3 – 4cm, nằm cạnh thực quản, bao gồm cả lỗ tâm vị. Lỗ thông giữa thực quản với dạ dày, không có van đóng mà chỉ có các nếp niêm mạc.
  • Đáy vị là phần phình to giống hình chỏm cầu, có chứa không khí.
  • Thân vị, nối tiếp phía dưới đáy vị. Giới hạn thân vị ở phía trên là mặt phẳng ngang qua lỗ tâm vị, phía dưới là mặt phẳng qua khuyết góc của bờ cong nhỏ.
  • Phần môn vị gồm hang vị tiếp nối thân vị, ống môn vị thu hẹp lại giống cái phễu đổ vào lỗ môn vị. Lỗ môn vị nằm giữa môn vị, thông với hành tá tràng, có cơ thắt vòng rất mạnh.

Từ ngoài vào trong, thành dạ dày phân 4 lớp:

  • Lớp thanh mạc, thuộc lá tạng của phúc mạc và là sự liên tục của mạc nối nhỏ phủ hai mặt trước và sau dạ dày.
  • Lớp cơ trơn rất dày, đi từ ngoài vào trong bao gồm có lớp cơ dọc liên tục cùng với các thớ cơ dọc của thực quản và tá tràng, lớp cơ vòng bao kín toàn bộ dạ dày, đặc biệt dày ở môn vị và tạo nên cơ thắt môn vị rất chắc, đến lớp cơ chéo là một lớp chạy quanh phần đáy vị và đi chéo xuống dưới về phía bờ cong lớn.
  • Lớp niêm mạc là tổ chức liên kết rất lỏng lẻo, có nhiều mạch máu.
  • Lớp niêm mạc, lót mặt trong của dạ dày.Mặt của niêm mạc có nhiều núm con, mỗi núm có kích thước từ 1 – 6mm. Trên mặt núm có nhiều hố dạ dày. Hố là chỗ đổ vào của 3 – 5 tuyến dạ dày, các tuyến vùng thân vị có hai loại tế bào là tế bào tiết pepsinogen và tế bào viền tiết acid clohydric và các yếu tố nội, tế bào tuyến bài tiết chất nhầy. Những tế bào biểu mô của niêm mạc tiết gastrin, có tác dụng điều hòa bài tiết dịch vị. Các tuyến này tiết khoảng 2 lít dịch trong 24 giờ. Riêng tuyến vùng môn vị chỉ tiết ra dịch kiềm.

1.3.2 Cấu tạo giải phẫu tá tràng.

Tá tràng là phần đầu của ruột non đi từ môn vị tới góc tá hỗng tràng, nằm sát thành bụng sau, trước cột sống. Tá tràng có hình chữ C, dài 22 – 25cm, đường kính 3 – 4cm, chia 4 phần:

Phần trên dài khoảng 5cm, nằm ngang dưới gan, ⅔ trên phần này phình to và di động gọi là hành tá tràng, còn ⅓ dưới cố định và dính vào thành bụng sau cùng các phần còn lại.

Phần đi xuống dài khoảng 8cm, chạy thẳng dọc bờ phải đốt sống thắt lưng TL1 – TL3, dính chặt vào đầu tụy. Lớp niêm mạc phần này có hai cục ruột to và nhỏ. Cục ruột to là nơi ống mật chủ và ống tụy chính đổ vào, còn cục ruột nhỏ là nơi ống tụy phụ đổ vào.

Phần ngang dài khoảng 6cm nằm ngay dưới đầu tụy và phần lên dài khoảng 6cm, chạy lên trên hơi chếch sang trái để tới góc tá hỗng tràng, từ góc này trở xuống ruột non luôn di động.

Thành tá tràng có 4 lớp, từ ngoài vào trong gồm lớp thanh mạc, lớp cơ trơn, lớp niêm mạc chứa nhiều mạch máu và thần kinh, lớp niêm mạc màu hồng mịn, gồm các nhung mao, nếp ngang, nếp dọc và các tuyến tá tràng. 

2.Nguyên nhân gây loét dạ dày tá tràng.

Dù là hai bệnh khác nhau tuy nhiên có nhiều nguyên nhân chung. Căn nguyên chính của loét dạ dày tá tràng là sự mất cân bằng giữa các yếu tố tấn công và yếu tố bảo vệ. Yếu tố tấn công bao gồm axit clohydric trong dạ dày, pepsin, các gốc tự do phản ứng và chất oxy hóa, leukotrienes, dịch mật trào ngược. Hàng rào chất nhầy dạ dày, bicarbonate, lưu lượng máu niêm mạc, phospholipid hoạt động bề mặt, prostaglandin (PG), oxit nitric (NO), cũng như hiệu suất chống oxy hóa enzyme và không enzym được coi là các yếu tố bảo vệ. Cơ chế bệnh sinh chính xác của loét dạ dày tá tràng không rõ ràng, nhưng các yếu tố đa dạng, bao gồm sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAIDS) và corticosteroid, lối sống căng thẳng, uống rượu, nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori ( HP), hút thuốc và tiền sử gia đình được coi là yếu tố nguy cơ trong cơ chế bệnh sinh của loét dạ dày tá tràng.

2.1 Sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAIDS) và corticosteroid.

nsaids - nhóm thuốc gây các triệu chứng loét dạ dày

Nhóm thuốc NSAIDs.

Loét dạ dày do NSAID là biến chứng nghiêm trọng nhất của bất kỳ liệu pháp điều trị bằng thuốc tổng hợp nào. Hiện đã được công nhận rõ ràng rằng tình trạng loét do NSAID gây ra là qua trung gian của việc ức chế enzym cyclooxygenase (COX) và từ đó ngăn chặn sự tổng hợp prostaglandin (PG). Các yếu tố khác nhau, chẳng hạn như tương tác bạch cầu-nội mô, thâm nhập bạch cầu trung tính, mất cân bằng cytokine và căng thẳng oxy hóa niêm mạc, góp phần vào cơ chế bệnh sinh gây tổn thương niêm mạc dạ dày do NSAID. Sự hoạt hóa của các phân tử kết dính, bao gồm các phân tử kết dính tế bào (CAM) và phân tử kết dính gian bào (ICAM-1) có liên quan đến hoạt động của bạch cầu trung tính. Ngoài ra, NSAID làm chậm quá trình chữa lành vết thương dạ dày do ức chế sự hình thành mạch bằng cách giảm các tác nhân tạo mạch cùng với việc kích thích các protein chống tạo mạch. Tạo mạch có một vai trò quan trọng trong việc chữa lành vết loét do tăng lưu lượng máu niêm mạc và cung cấp các chất quan trọng cho mô bị thương, dẫn đến việc thúc đẩy tái biểu mô và chữa lành vết loét. Các loại thuốc nhóm NSAIDS thường gặp: dẫn xuất acid salicylic (aspirin), dẫn xuất pyrazolon, dẫn xuất indol (indomethacin), dẫn xuất phenylacetic (diclofenac), dẫn xuất propionic (indoprofen), dẫn xuất oxicam (Tilcotil), dẫn xuất anilin (paracetamol), thuốc ức chế chọn lọc COX-2 (meloxicam),..

2.2 Do vi khuẩn helicobacter pylori.

Trong những năm gần đây, người ta thừa nhận rằng sự xuất hiện của loét dạ dày tá tràng chủ yếu là do nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori ( HP ). Trên phạm vi toàn cầu, hơn một nửa dân số thế giới bị nhiễm vi khuẩn này và tỷ lệ này đạt khoảng 80% ở các nước đang phát triển. Mối tương quan giữa nhiễm trùng và các bệnh tiêu hóa như loét dạ dày và / hoặc tá tràng, viêm dạ dày ăn mòn mãn tính, ung thư dạ dày và / hoặc tá tràng, và u lympho mạch nha đã được báo cáo.  Nhiễm H. pylori kích thích sự biểu hiện quá mức của các cytokine tiền viêm [ ví dụ: interleukin (IL) -1β, IL-6, yếu tố hoại tử khối u (TNF) -α, và IL-8] trong tế bào biểu mô dạ dày, hoạt động như bạch cầu trung tính- kích hoạt chemokine và dẫn đến thâm nhập bạch cầu. Có thể sự hoạt hóa IL-8 liên quan đến H. pylori làm rối loạn tính toàn vẹn của niêm mạc do tạo gốc tự do oxy hóa (ROS), cũng như kích hoạt các enzym phân giải protein. 

yếu tố hàng đầu gây các triệu chứng loét dạ dày

Vi khuẩn HP – yếu tố nguy cơ gây bệnh hàng đầu.

2.3 Lối sống căng thẳng, uống rượu, hút thuốc.

2.3.1 Do stress.

Loét dạ dày do stress là một tình trạng lâm sàng dẫn đến bệnh tật, thậm chí tử vong và có liên quan đến các yếu tố bệnh lý phức tạp. Căng thẳng là một phản ứng sinh học có tính tương tác cao, trong đó não bộ đóng vai trò chủ đạo. Sự tham gia của các chất nền não như hệ limbic (hạch hạnh nhân, vỏ não, hồi hải mã) và các đặc điểm hành vi đã được nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu đã chỉ ra rằng trục não-ruột của hệ limbic có thể tham gia vào việc tác động tính toàn vẹn (niêm mạc không bị tổn thương) của niêm mạc dạ dày trong các tình huống căng thẳng. Hơn nữa khi căng thẳng dạ dày tăng co bóp, tăng tiết acid dịch vị càng làm trầm trọng ổ loét và gây đau.

stress - yếu tố nguy cơ gây triệu chứng loét dạ dày

Stress có thể gây tổn thương niêm mạc dạ dày.

2.3.2 Do uống rượu, đồ uống có cồn, chất kích thích.

Khi dùng đồ uống có cồn, men xúc tác (ADH, ALDG) sẽ chuyển hóa rượu thành acetaldehyd (90% chuyển hóa thành dạng này), sau đó chuyển thành acetate. Không chỉ gây tổn hại đến tế bào gan mà chúng còn ảnh hưởng tới hệ thống tiêu hóa và cũng gây độc với các tạng trong cơ thể. Uống nhiều rượu bia, sẽ làm gia tăng áp lực carbon dioxide (CO2) trong dạ dày, khiến các tổn thương tại ổ viêm trở nên nghiêm trọng hơn, có thể gây loét dạ dày tá tràng và thủng dạ dày. 

2.3.3 Do hút thuốc.

 Hút thuốc lá đi đôi với việc bắt đầu và kéo dài loét dạ dày. Dữ liệu dịch tễ học cho thấy hút thuốc lá làm tăng cả tỷ lệ mắc và tỷ lệ tái phát của các bệnh loét dạ dày tá tràng và cũng làm chậm quá trình lành vết loét ở người. . Các tác động bất lợi chung của việc hút thuốc lá lên niêm mạc dạ dày bao gồm giảm yếu tố tăng trưởng biểu bì tuần hoàn, tăng sản xuất gốc tự do ở mô và sự hiện diện của các gốc tự do trong khói thuốc, cùng với việc giảm hoạt động tổng hợp nitric oxide của niêm mạc. Hơn nữa, ảnh hưởng sự thay đổi lưu lượng máu bình thường của niêm mạc dạ dày, sự hình thành mạch và ức chế sự tăng sinh tế bào là nguyên nhân chủ yếu làm chậm quá trình lành vết loét ở những người hút thuốc lá.

thuốc lá gây các triệu chứng loét dạ dày

Hút thuốc lá gây hại lên hệ tiêu hóa.

2.4 Tiền sử gia đình.

 Yếu tố tiền sử gia đình chủ yếu liên quan đến vi khuẩn HP. Bệnh nhân và người thân của họ có chung các yếu tố nguy cơ, bao gồm tiếp xúc với H. pylori trong môi trường và các đặc điểm di truyền có thể ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch đối với nhiễm H. pylori.

3.Triệu chứng loét dạ dày.

Triệu chứng loét dạ dày

Các triệu chứng của bệnh loét dạ dày.

5 triệu chứng loét dạ dày tá tràng điển hình bao gồm:

  • Đau thượng vị: thường xuất hiện trong vòng 15-30 phút sau bữa ăn ở bệnh nhân loét dạ dày; mặt khác, cơn đau do loét tá tràng có xu hướng xảy ra sau bữa ăn 3-4 giờ. Dựa trên cơ sở lượng thức ăn di chuyển xuống dạ dày, rồi đến tá tràng (quá trình tháo rỗng dạ dày). Tham khảo thêm chi tiết tại Nguyên nhân gây đau thượng vị và những thói quen sai lầm để có các biện pháp phòng tránh phù hợp.
  • Chướng bụng, đầy hơi.
  • Buồn nôn, nôn.
  • Tăng cân hoặc giảm cân: do loét dạ dày đau khi no sẽ làm bệnh nhân sợ no không dám ăn nhiều, ăn vào khó chịu dẫn đến chán ăn, mệt mỏi, cơ thể gầy, giảm cân. Loét tá tràng bệnh nhân đau khi đói nên thường giảm đau khi được ăn dẫn đến tình trạng muốn ăn để giảm đau, do đó gây tăng cân.
  • Ợ hơi, ợ chua: ợ hơi do hoạt động dạ dày ảnh hưởng làm phân hủy HCO3- thành CO2 nên gây đầy hơi CO2  trong dạ dày dẫn đến ợ hơi. Ợ chua, vị chua ở đây do  acid dạ dày tạo ra.

4.Biến chứng của loét dạ dày tá tràng.

Khoảng 25% bệnh nhân bị loét dạ dày tá tràng có biến chứng nghiêm trọng như xuất huyết, thủng hoặc tắc nghẽn đường ra dạ dày. Loét âm thầm, triệu chứng loét dạ dày không điển hình và các biến chứng thường gặp hơn ở bệnh nhân lớn tuổi và bệnh nhân đang dùng NSAID. Tỷ lệ mắc các biến chứng nghiêm trọng ở đường tiêu hóa trên ở những người trong dân số nói chung không dùng NSAID là rất thấp (dưới một trên 1.000 người-năm).

4.1 Xuất huyết dạ dày.

Xuất huyết đường tiêu hóa xảy ra trên 15 đến 20 phần trăm bệnh nhân bị loét dạ dày tá tràng. Đây là nguyên nhân tử vong phổ biến nhất và là chỉ định phẫu thuật phổ biến nhất trong bệnh này. Ở người lớn tuổi, 20% các đợt chảy máu là do loét không có triệu chứng. Bệnh nhân có thể có biểu hiện nôn mửa (đỏ tươi hoặc “cà phê xay”), melena (đi ngoài phân đen), mệt mỏi do thiếu máu, trụy tim mạch hoặc ngất.

biến chứng của loét dạ dày tá tràng

Xuất huyết dạ dày – biến chứng nguy hiểm của loét dạ dày tá tràng.

4.2 Thủng dạ dày.

Thủng xảy ra ở khoảng 2 đến 10 phần trăm trường hợp loét dạ dày tá tràng. Nó thường liên quan đến thành trước của tá tràng (60 phần trăm), mặc dù nó cũng có thể xảy ra trong loét dạ dày có đường cong (20 phần trăm) và đường dưới (20 phần trăm). Thủng vết loét ở trẻ em là rất hiếm. Thủng phúc mạc tự do và dẫn đến viêm phúc mạc do hóa chất và vi khuẩn là một cấp cứu ngoại khoa biểu hiện đau bụng trên đột ngột, lan nhanh, dữ dội, trầm trọng hơn khi cử động; cơn đau có thể lan xuống bụng dưới bên phải hoặc cả hai vai. Sốt, hạ huyết áp và thiểu niệu có thể nhiễm trùng huyết và tổn thương tuần hoàn. Đau bụng toàn thân, đau hồi phục, cứng thành bụng như ván và âm ruột giảm hoạt động (dấu hiệu lâm sàng của viêm phúc mạc).

4.3 Tắc nghẽn đường ra dạ dày.

Bệnh loét dạ dày tá tràng là nguyên nhân cơ bản ở dưới 5 đến 8 phần trăm bệnh nhân bị tắc nghẽn đường ra dạ dày. Bệnh nhân bị loét tá tràng có thể bị hẹp môn vị do viêm cấp tính, co thắt, phù nề, hoặc sẹo và xơ hóa. Các triệu chứng lâm sáng của sự tắc nghẽn bao gồm các đợt nôn tái phát với khối lượng lớn chất nôn chứa thức ăn chưa tiêu hóa; đầy bụng hoặc no dai dẳng sau khi ăn; và cảm giác no sớm. Giảm cân, mất nước và nhiễm kiềm chuyển hóa hạ chloremic, hạ kali máu; Cũng có thể quan sát thấy một khối vùng thượng vị đau bụng đại diện cho dạ dày giãn nở với nhu động dạ dày có thể nhìn thấy được.

5. Chẩn đoán bệnh loét dạ dày tá tràng.

5.1 Chẩn đoán lâm sàng.

Dựa vào các triệu chứng loét dạ dày tá tràng trên lâm sàng điển hình: đau vùng thượng vị, ợ chua, ợ hơi, buồn nôn, nôn, tăng hoặc giảm cân để làm cơ sở chẩn đoán.

5.2 Chẩn đoán cận lâm sàng.

5.2.1 Nội soi thực quản (EGD).

Tiêu chuẩn vàng và là xét nghiệm chẩn đoán chính xác nhất với độ nhạy và độ đặc hiệu lên đến 90% trong chẩn đoán viêm loét dạ dày, tá tràng. Được chỉ định ở những bệnh nhân có bằng chứng chảy máu, sụt cân, mãn tính hoặc nôn mửa kéo dài; những người có các triệu chứng không đáp ứng với thuốc; và những người trên 55 tuổi.

nội soi thực quản

Nội soi thực quản – tiêu chuẩn vàng.

5.2.2 Chụp X quang cản quang bari hoặc diatrizoate meglumine và diatrizoate natri (Gastrografin) (chụp cắt lớp vi tính đối quang kép).

 Độ chính xác chẩn đoán tăng lên theo mức độ của bệnh; Độ nhạy 80 đến 90 phần trăm trong việc phát hiện loét tá tràng. Được chỉ định khi nội soi không phù hợp hoặc không khả thi.

5.2.3 Thử nghiệm Helicobacter pylori.

xét nghiệm elisa

Xét nghiệm ELISA.

  • Thử nghiệm huyết thanh học: Chỉ hữu ích cho thử nghiệm ban đầu (độ nhạy, 85 phần trăm; độ đặc hiệu, 79 phần trăm); không thể được sử dụng để xác nhận loại bỏ.
  • Xét nghiệm urê hơi thở: Độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Nó có thể được sử dụng để xác nhận sự tiệt trừ sau 4 đến 6 tuần ngừng điều trị. Với sự hiện diện của urease, một loại enzyme do H.pylori sản xuất, carbon dioxide được tạo ra bởi dạ dày sẽ được phổi thở ra.
  • Các kháng thể đối với H.pylori cũng có thể được đo.
  • Kiểm tra kháng nguyên phân: Bất tiện nhưng chính xác (độ nhạy, 91 đến 98 phần trăm; độ đặc hiệu, 94 đến 99 phần trăm) Có thể được sử dụng để xác nhận việc loại bỏ.
  • ELISA dựa trên nước tiểu và xét nghiệm nước tiểu nhanh: Độ nhạy, 70 đến 96 phần trăm; độ đặc hiệu, 77 đến 85 phần trăm Không thể được sử dụng để xác nhận việc loại bỏ.
  • Sinh thiết qua nội soi: Thường không khuyến khích nuôi cấy vì nó tốn kém, mất thời gian và xâm lấn. Nó được chỉ định nếu điều trị tiệt trừ không thành công hoặc có nghi ngờ về kháng kháng sinh. Sinh thiết từ ít nhất 4-6 vị trí là cần thiết để tăng độ nhạy. Loét dạ dày thường nằm trên độ cong nhỏ hơn giữa màng đệm và đáy. Phần lớn các vết loét tá tràng nằm ở phần đầu của tá tràng.

6.Chẩn đoán phân biệt.

Cần chẩn đoán phân biệt do triệu chứng loét dạ dày tá tràng chưa nhiều đặc trưng, có thể thấy xuất hiện ở một số bệnh khác nên dưới đây là một số lưu ý phân biệt triệu chứng loét dạ dày tá tràng để có kết quả chẩn đoán chính xác.

  • Viêm dạ dày – một quá trình viêm của niêm mạc dạ dày do căn nguyên nhiễm trùng hoặc qua trung gian miễn dịch với biểu hiện đau bụng trên và buồn nôn. Biểu hiện lâm sàng rất giống biểu hiện của bệnh loét dạ dày tá tràng. 
  • Bệnh trào ngược dạ dày thực quản – Bệnh nhân thường có cảm giác nóng rát ở vùng thượng vị và vùng dưới hậu môn, tiết nhiều nước bọt hoặc thức ăn trào ra ngắt quãng.
  • Ung thư dạ dày – ngoài đau bụng, bệnh nhân thường mô tả các triệu chứng báo động như sụt cân, melena, nôn mửa tái phát hoặc bằng chứng của bệnh ác tính ở nơi khác trong trường hợp di căn.
  • Viêm tụy – đau vùng thượng vị hoặc hạ sườn phải dai dẳng và dữ dội hơn khi nằm ngửa và bệnh nhân thường có tiền sử nghiện rượu hoặc sỏi mật. 
  • Đau quặn mật – đau sâu từng cơn, dữ dội ở phần tư trên bên phải hoặc thượng vị do các bữa ăn nhiều dầu mỡ. 
  • Viêm túi mật – đau hạ sườn phải hoặc thượng vị thường kéo dài hàng giờ và trầm trọng hơn khi ăn nhiều chất béo và có liên quan đến buồn nôn và nôn. Sốt, nhịp tim nhanh, dấu hiệu Murphy dương tính, tăng bạch cầu và các chức năng gan bất thường giúp phân biệt rõ ràng hơn với cơn đau quặn mật . 

Tiếp đây là một số tình trạng có thể đe dọa đến tính mạng cũng có thể có các biểu hiện tương tự triệu chứng loét dạ dày tá tràng.

  • Nhồi máu cơ tim – đặc biệt ở thành dưới và liên quan đến thất phải, đôi khi bệnh nhân có thể có biểu hiện đau vùng thượng vị kèm theo buồn nôn và nôn . Sự hiện diện của các triệu chứng khác như chóng mặt, khó thở và các dấu hiệu bệnh bất thường ở bệnh nhân có nguy cơ cao nên thông báo cho bác sĩ lâm sàng để tìm ra nguyên nhân.  
  • Thiếu máu cục bộ mạc treo – trong khi thiếu máu cục bộ mạc treo cấp tính có biểu hiện đau bụng dữ dội, khởi phát cấp tính; biến thể mãn tính thường có biểu hiện đau thượng vị sau ăn và có thể bị nhầm với triệu chứng loét dạ dày tá tràng.

7.Điều trị.

Các phương pháp điều trị thông thường cho bệnh viêm loét dạ dày tá tràng một mặt dựa trên việc giảm các yếu tố gây tổn thương niêm mạc dạ dày, chẳng hạn như thuốc ức chế bơm proton (PPI), thuốc kháng cholinergic, thuốc đối kháng thụ thể histamin H2 và thuốc kháng axit, mặt khác là cải thiện của lớp niêm mạc bảo vệ bằng cách sản xuất chất nhầy hoặc bằng các loại thuốc tổng hợp chất nhầy.

iều trị triệu chứng loét dạ dày

Hãy quan tâm dạ dày của bạn. 

7.1 Điều trị bằng cách sử dụng thuốc – giảm các triệu chứng loét dạ dày.

  • Thuốc ức chế bơm proton (PPI) cung cấp khả năng ức chế axit vượt trội, tỷ lệ chữa bệnh và giảm triệu chứng và được khuyến cáo là liệu pháp ban đầu cho hầu hết bệnh nhân. PPI ngăn chặn sản xuất axit trong dạ dày, giúp giảm các triệu chứng và thúc đẩy quá trình chữa bệnh. Điều trị có thể được kết hợp với bổ sung canxi vì việc sử dụng PPI trong thời gian dài có thể làm tăng nguy cơ gãy xương.
  •  Loét dạ dày tá tràng do NSAID gây ra có thể được điều trị bằng cách ngừng sử dụng NSAID hoặc chuyển sang liều thấp hơn. Corticosteroid, bisphosphonates, và thuốc chống đông máu cũng nên ngừng nếu có thể. Các chất tương tự prostaglandin (misoprostol) đôi khi được dùng để dự phòng loét dạ dày tá tràng do NSAID. 
  •  Điều trị đầu tay đối với bệnh loét dạ dày tá tràng do H. pylori gây ra là phác đồ bộ ba bao gồm hai loại kháng sinh và một chất ức chế bơm proton. Pantoprazole, clarithromycin, thuốc kháng sinh và PPI có tác dụng hiệp đồng để diệt trừ H. pylori .Kháng sinh được lựa chọn cần xem xét đến sự hiện diện của kháng kháng sinh trong quá trình điều trị. 

7.2 Phẫu thuật.

Điều trị ngoại khoa được chỉ định nếu bệnh nhân không đáp ứng với điều trị nội khoa, không tuân thủ hoặc có nguy cơ biến chứng cao (ví dụ: người ghép tạng, bệnh nhân phụ thuộc vào steroid hoặc NSAID, những người bị loét dạ dày hoặc tá tràng khổng lồ, những người bị loét không thể chữa lành với điều trị thích hợp). Loét dạ dày tá tràng khó chữa có đường kính trên 5mm mà không lành mặc dù điều trị PPI 8-12 tuần. Các nguyên nhân phổ biến là nhiễm H / pylori dai dẳng, tiếp tục sử dụng NSAID hoặc các bệnh đi kèm đáng kể làm suy giảm khả năng chữa lành vết loét hoặc các tình trạng khác như ung thư dạ dày. Nếu vết loét vẫn tồn tại mặc dù đã giải quyết được các yếu tố nguy cơ nêu trên, bệnh nhân có thể được điều trị bằng phẫu thuật.

Các lựa chọn phẫu thuật cho viêm loét dạ dày tá tràng bao gồm cắt bỏ và dẫn lưu âm đạo theo đường cụt (nong ống dẫn lưu hoặc phẫu thuật cắt dạ dày), cắt bỏ phế vị chọn lọc (bảo tồn các nhánh gan và dạ dày của phế vị) và dẫn lưu, cắt bỏ phế vị chọn lọc cao (chỉ phân chia các nhánh dạ dày của phế vị, bảo tồn dây thần kinh của Latarjet để môn vị), hoặc cắt một phần dạ dày.

 Như vậy, bệnh viêm loét dạ dày tá tràng thường xảy ra ở dạ dày và đoạn gần tá tràng. Nguyên nhân chủ yếu là nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori và sử dụng thuốc chống viêm không steroid. Các triệu chứng loét dạ dày tá tràng bao gồm khó chịu vùng thượng vị, ợ hơi, buồn nôn,chán ăn, sụt cân. Bệnh nhân đang dùng thuốc chống viêm không steroid nên ngưng sử dụng. Đối với những bệnh nhân trẻ tuổi không có triệu chứng cấp tính, nên áp dụng xét nghiệm và điều trị dựa trên kết quả xét nghiệm H. pylori . Bệnh nhân có các triệu chứng kéo dài nên được chuyển đến nội soi. Phẫu thuật được chỉ định nếu các biến chứng phát triển hoặc nếu vết loét không đáp ứng với thuốc. Để biết thêm thông tin chi tiết về cách điều trị, phòng bệnh vui lòng liên hệ hotline 18006091. Chúc quý vị và gia đình dồi dào sức khỏe, chiến thắng bệnh tật!

Chia sẻ bài viết


Contact Me on Zalo
1800 6091