Viêm dạ dày Hp và phương pháp điều trị hiệu quả chúng ta cần biết

Viêm dạ dày Hp và phương pháp điều trị hiệu quả chúng ta cần biết

Dạ dày là nơi chứa, nhào trộn và tiêu hóa thức ăn nhờ tác dụng của dịch vị của dạ dày. Viêm dạ dày Hp là một trong những bệnh phổ biến nhất về đường tiêu hóa. Theo các thống kê, Viêm dạ dày được cho là ảnh hưởng đến khoảng một nửa số người trên toàn thế giới và ngày càng trở nên phổ biến hơn khi mọi người già đi. 

Để giúp độc giả hiểu hơn về viêm dạ dày Hp, bài viết dưới đây chúng tôi sẽ cung cấp đến các bạn một số thông tin cơ bản về căn bệnh này.

1. Các nguyên nhân gây viêm dạ dày Hp

Viêm dạ dày là tình trạng viêm nhiễm của hàng rào bảo vệ dạ dày: lớp niêm mạc. Nó có thể xảy ra một thời gian ngắn hoặc có thể kéo dài.

Viêm dạ dày có thể do nhiều nguyên nhân như stress và chấn thương tinh thần, thói quen sử dụng rượu bia, thuốc lá, sử dụng thuốc, viêm dạ dày do vi khuẩn Hp (vi khuẩn Helicobacter pylori).

1.1. Nguyên nhân viêm dạ dày do Hp:

Helicobacter pylori cư trú trong dạ dày của hơn một nửa dân số thế giới, và nhiễm trùng đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của một số bệnh dạ dày tá tràng. Sự xâm nhập của Helicobacter pylori tới niêm mạc dạ dày dẫn đến sự phát triển của

 mạn tính ở những người bị nhiễm bệnh, và ở một số ít bệnh nhân, viêm dạ dày mãn tính tiến triển thành các biến chứng (Ví dụ: bệnh loét, ung thư dạ dày, một số rối loạn ngoại vị riêng biệt). Vi khuẩn H. pylori tiết ra urease làm thủy phân ure thành amoniac gây độc cho lớp niêm mạc dạ dày và giúp chúng tồn tại được trong dạ dày. Vi khuẩn này còn làm giảm chất nhầy của lớp niêm mạc dạ dày và làm cho acid dịch vị ăn mòn dạ dày gây nên bệnh viêm dạ dày. Tỷ lệ bệnh nhân viêm dạ dày do vi khuẩn H. pylori chiếm 80-90%.

Viêm dạ dày Hp có thể lây nhiễm từ người lành sang người bệnh bằng các con đường như sau:

  • Đường miệng – miệng: người lành tiếp xúc với dịch tiết đường tiêu hóa hay nước bọt của người bệnh.
  • Đường phân – miệng: vi khuẩn được đào thải qua phân và trở thành nguồn lây nhiễm cho cộng đồng, khi ăn phải những thực phẩm sống có nhiễm vi khuẩn thì có thể bị nhiễm Hp.
  • Các đường khác: khám chung các dụng cụ y tế như dụng cụ nha khoa, nội soi dạ dày… có thể bị lây nhiễm vi khuẩn từ những người bệnh trước đó. Vì vậy cần khử trùng các dụng cụ sau khi mỗi lần thăm khám để tránh gây lây nhiễm vi khuẩn Hp.

viem_loet_da_day_hp1

1.2. Nguyên nhân viêm dạ dày do thuốc:

1.2.1. Nhóm thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs)

Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) là nhóm thuốc có tác dụng chống viêm, giảm đau do ức chế enzym cyclooxygenase (COX), dẫn đến ức chế sự hình thành prostaglandin (PG), là chất trung gian hóa học gây viêm đồng thời giảm tiết chất nhầy có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày. Thuốc còn ức chế sự tổng hợp NO gây giảm vi tuần hoàn ở niêm mạc, ngăn cản sự tái tạo và sửa chữa. Do đó, niêm mạc đường tiêu hóa dễ bị tổn thương hơn. Đây là cơ chế quan trọng nhất. Ngoài ra, các thuốc này còn có tính acid yếu, thấm trực tiếp vào lớp niêm mạc đường tiêu hóa và bản thân sản phẩm chuyển hóa của thuốc sau khi được tiết ra qua đường mật cũng gây tổn thương.

1.2.2. Nhóm corticoid

Là nhóm thuốc có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và ức chế miễn dịch rất mạnh hiện nay. Do thuốc ức chế enzym phospholipase A2 là enzym tham gia quá trình tổng hợp prostaglandin (PG), leucotrien và các chất như histamin, bradykinin…tham gia quá trình viêm. Tuy nhiên, nếu dùng thuốc liều cao hoặc kéo dài, giảm tổng hợp PG trên đường tiêu hóa đồng thời tăng tiết acid, tăng nguy cơ gây viêm đường tiêu hóa.

1.3. Thói quen ăn uống, sinh hoạt không khoa học dễ gây nên bệnh viêm dạ dày

Ăn uống cũng là một vấn đề ảnh hưởng đến hoạt động của dạ dày. Một số thói quen xấu có thể gây các tác động không tốt cho dạ dày mà nhiều người hay mắc phải như:

  • Ăn uống không đúng bữa, ăn quá nhiều trong một bữa
  • Nhịn ăn hoặc ăn không đủ chất dinh dưỡng
  • Đi nằm ngay hoặc vận động mạnh sau bữa ăn no
  • Ăn các đồ cay, nóng, chua…
  • Uống nhiều rượu bia hay đồ uống có gas…

1.4. Sử dụng đồ uống có cồn, chất kích thích là nguyên nhân ảnh hưởng đến niêm mạc dạ dày

Với các đồ uống có cồn như bia, rượu hay các chất kích thích như thuốc lá,… thường gặp trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta cũng là một nguyên nhân làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến dạ dày. 

Thành phần trong thuốc lá làm tăng tiết acid, ức chế sự tiết HCO3- của tụy và tăng

sự đẩy vị trấp vào tá tràng, giảm tiết chất nhầy và nước bọt. Đồng thời, thành phần khác

gây co mạch, giảm tái tạo tế bào nên chậm liền sẹo, giảm đáp ứng với điều trị.

Rượu tác động trực tiếp niêm mạc, tăng tiết acid, ức chế tổng hợp prostaglandin nên

tăng nguy cơ dẫn đến tình trạng loét dạ dày – tá tràng.

Stress được coi là yếu tố gây loét dạ dày – tá tràng mạnh thông qua việc tăng tiết

adrenalin gây co mạch niêm mạc và ACTH – cortisol gây tăng tiết acid, giảm tiết chất

nhầy.

 

Ngoài ra Viêm dạ dày cũng có thể phát triển sau phẫu thuật lớn hoặc chấn thương do chấn thương “loét Cushing”, bỏng “loét cong” hoặc nhiễm trùng nặng. Viêm dạ dày cũng có thể xảy ra ở những người đã phẫu thuật giảm cân dẫn đến việc tạo dải hoặc tái tạo lại đường tiêu hóa.

2. Cơ chế bệnh sinh của viêm dạ dày do Hp

Khái niệm

Helicobacter pylori (Hp) là một loại xoắn khuẩn gram âm, di chuyển được và sống ký sinh ở niêm mạc dạ dày, tá tràng.

Viêm dạ dày Hp là bệnh lý của dạ dày do vi khuẩn Hp gây ra, hình thành quá trình viêm của lớp niêm mạc dạ dày.

Cơ chế gây loét dạ dày của H. pylori như sau:

  • Vi khuẩn có một lượng lớn men urease, men này góp phần tạo ra NH4OH có khả

năng trung hòa acid xung quanh nó đồng thời còn làm tổn thương niêm mạc. Đáp trả lại

vấn đề này, dạ dày tăng tiết acid để cân bằng lại vì trung hòa một lượng thì tiết thêm ra để bù lại.

  • Vi khuẩn tiết ra nội độc tố gây ra các thương tổn ở tế bào biểu mô gây thoái hóa, bong tróc tế bào tạo cơ hội cho HCl và pepsin ăn mòn, gây ra các tổn thương và vết loét trên niêm mạc dạ dày.
  •  Vi khuẩn gây tổn thương niêm mạc làm tế bào D giảm tiết Somatostatin nên làm

tăng tiết Gastrin vào máu, hậu quả là tăng khối lượng tế bào thành, tăng tiết acid HCl và

tăng hoạt hóa pepsinogen thành pepsin.

  • Vi khuẩn tiết ra nhiều chất có tác dụng hoạt hóa các đại thực bào, bạch cầu đơn

nhân, tăng giải phóng ra các yếu tố trung gian gây viêm (interleukin- IL, gốc tự do) làm

sưng, phù nề hoại tử, niêm mạc

  • Cơ thể bị nhiễm H. pylori sản xuất kháng thể chống lại vi khuẩn này tuy nhiên lại gây ra phản ứng chéo giữa kháng thể với các chất tương tự trên tế bào biểu mô, gây ra tác động xấu tới niêm mạc dạ dày.

 

3. Những dấu hiệu và triệu chứng thường gặp trong viêm dạ dày Hp

Viêm dạ dày Hp có thể dẫn tới một số các triệu chứng phổ biến dưới đây:

  • Đau ở vùng thượng vị: đây là triệu chứng cơ năng phổ biến, quan trọng nhất.
  • Đau âm ỉ, nóng bỏng rát sau xương ức vùng thượng vị là triệu chứng của bệnh viêm dạ dày Hp do tăng tiết acid dịch vị gây bỏng niêm mạc. Để cắt giảm cơn đau có thể sử dụng antacid bao gồm thuốc kháng acid như Mg(OH)2, Al(OH)3: trung hòa acid).
  • Đau có tính chu kỳ:

Theo nhịp điệu bữa ăn: có thể đau khi no,khoảng 1-2h sau bữa ăn, lúc này dạ dày co bóp để tiêu hóa thức ăn có thể làm cho thức ăn va chạm ổ viêm gây đau.

  • Đau theo mùa trong năm:

Vào những thời điểm giao mùa: sức đề kháng của chúng ta sẽ bị giảm đi, là cơ hội cho vi khuẩn phát triển mạnh.

viem_loet_da_day_hp2

  • Rối loạn tiêu hóa: Triệu chứng cơ năng.

– Có thể có các triệu chứng ợ chua, ợ hơi. Buồn nôn và nôn.

– Táo bón hoặc phân, lỏng thất thường.

  • Thần kinh suy nhược:

– Co cứng ở vùng thượng vị.

– Ấn điểm thượng vị có cảm giác đau.

4. Các thể bệnh Viêm dạ dày Hp

4.1. Viêm dạ dày cấp tính

Viêm dạ dày ăn mòn cấp tính thường liên quan đến các ổ hoại tử trên bề mặt do tổn thương lớp bảo vệ niêm mạc. NSAIDs ức chế cyclooxygenase-1, một loại enzyme chịu trách nhiệm sinh tổng hợp eicosanoids trong dạ dày, làm tăng khả năng hình thành loét dạ dày tá tràng. Ngoài ra, NSAIDs, chẳng hạn như aspirin, làm giảm chất bảo vệ dạ dày gọi là prostaglandin. Những loại thuốc này được sử dụng trong thời gian ngắn thường không nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu sử dụng thường xuyên có thể dẫn đến viêm dạ dày. Ngoài ra, căng thẳng sinh lý nghiêm trọng (“loét do căng thẳng”) do nhiễm trùng huyết, thiếu oxy, chấn thương hoặc phẫu thuật, cũng là nguyên nhân phổ biến của viêm dạ dày ăn mòn cấp tính. Dạng này có thể xảy ra trên 5% bệnh nhân nhập viện.

Ngoài ra, lưu ý rằng uống rượu không phải nguyên nhân gây viêm dạ dày mãn tính. Tuy nhiên, nó ăn mòn lớp niêm mạc của dạ dày; liều lượng rượu thấp kích thích tiết acid clohydric. Rượu liều cao không kích thích tiết acid.

4.2. Viêm dạ dày mạn tính

Viêm dạ dày mãn tính đề cập đến một loạt các vấn đề của các mô dạ dày. Hệ thống miễn dịch tạo ra các protein và kháng thể chống lại nhiễm trùng trong cơ thể để duy trì tình trạng nội môi. Trong một số rối loạn, cơ thể nhắm mục tiêu vào dạ dày như thể nó là một protein lạ hoặc mầm bệnh; nó tạo ra các kháng thể chống lại, làm tổn thương nghiêm trọng, và thậm chí có thể phá hủy dạ dày hoặc niêm mạc của nó. Trong một số trường hợp, mật, thường được sử dụng để hỗ trợ tiêu hóa ở ruột non, sẽ đi vào qua van môn vị của dạ dày nếu nó đã bị loại bỏ trong quá trình phẫu thuật hoặc hoạt động không bình thường, cũng dẫn đến viêm dạ dày. Viêm dạ dày cũng có thể do các tình trạng bệnh lý khác, bao gồm cả bệnh Crohn, HIV/AIDS, một số rối loạn mô liên kếtsuy gan hoặc thận. Từ năm 1992, các tổn thương viêm dạ dày mãn tính được phân loại theo hệ thống Sydney.

4.3. Metaplasia

Chuyển sản tuyến nhầy, sự thay thế có thể đảo ngược của các tế bào biệt hóa, xảy ra trong bối cảnh các tuyến dạ dày bị tổn thương nghiêm trọng, sau đó sẽ loại bỏ (viêm dạ dày teo) và dần dần được thay thế bằng các tuyến nhầy. Loét dạ dày có thể phát triển; không rõ chúng là nguyên nhân hay hậu quả. Chuyển sản ruột thường bắt đầu để phản ứng với tổn thương niêm mạc mãn tính ở cổ răng, và có thể lan rộng ra cơ thể. Tế bào niêm mạc dạ dày thay đổi để giống với niêm mạc ruột và thậm chí có thể có đặc điểm hấp thụ. Chuyển sản ruột được phân loại về mặt mô học là hoàn chỉnh hoặc không đầy đủ. Khi bị chuyển sản hoàn toàn, niêm mạc dạ dày được biến đổi hoàn toàn thành niêm mạc ruột non cả về mặt mô học và chức năng, có khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng và tiết ra các peptid. Trong trường hợp chuyển sản không hoàn toàn, biểu mô giả định có hình dạng mô học gần giống với biểu mô của ruột già và thường xuyên có biểu hiện loạn sản.

Phương pháp chẩn đoán viêm dạ dày do Hp

Thông thường, chẩn đoán có thể được thực hiện dựa trên các triệu chứng lâm sàng, bên cạnh đó các phương pháp khác có thể được sử dụng để xác minh viêm dạ dày Hp bao gồm:

  • Xét nghiệm máu để xác định tình trạng viêm cấp
    • Số lượng tế bào máu
    • Công thức bạch cầu
  • Chụp X-quang dạ dày cản quang: quan sát trực tiếp dạ dày có thể quan sát thấy tổn thương.
    • Ưu điểm: nhanh, chi phí rẻ, dễ thực hiện ở nhiều cơ sở y tế
    • Nhược điểm: quan sát gián tiếp nên không phát hiện được các tổn thương nhỏ, mới xuất hiện. Không phát hiện được Hp.
  • Nội soi để kiểm tra tình trạng viêm nhiễm vi khuẩn Hp của người bệnh
    • Ưu điểm: tiến hành sinh thiết có thể tìm tế bào ác tính và tìm Hp
    • Nhược điểm: đau, đắt tiền, chỉ thực hiện được ở những cơ sở y tế có đủ điều kiện cơ sở vật chất, có nguy cơ lây nhiễm chéo 

viem_loet_da_day_hp3

Hình ảnh nội soi dạ dày do viêm dạ dày Hp

  • Xét nghiệm tìm Hp
  • Xét nghiệm: CLO test, nuôi cấy vi khuẩn
  • Xét nghiệm không xâm lấn: Elisa, test thở Urea

Trong đó quan trọng nhất test thở Urea (xét nghiệm không xâm lấn),  xác định sự có/không có mặt urease  trong lòng dạ dày:  theo dõi nồng độ CO2 trong hơi thở bệnh nhân ăn trước và sau khi uống uống một lượng ure,  nếu có urease sẽ làm cho nồng độ CO2 tăng từ đó đưa ra kết luận có/ không có vi khuẩn Hp.

  • Xét nghiệm phân để tìm vi khuẩn Hp

6. Điều trị viêm dạ dày Hp.

6.1. Phương pháp điều trị dùng thuốc

Bệnh viêm dạ dày Hp thường được điều trị theo phác đồ. Sau đây là 3 phác đồ điều trị được Bộ Y tế khuyên dùng nhằm loại bỏ và ngăn ngừa sự lây nhiễm vi khuẩn Hp trong thời gian ngắn nhất.

viem-loet-da-day-hp-

Phác đồ điều trị

6.2. Phương pháp điều trị không dùng thuốc

  • Vệ sinh cá nhân sạch sẽ
  • Ăn uống đúng giờ, không bỏ bữa, ăn nhiều rau xanh
  • Tránh uống các đồ uống có gas, bia rượu…
  • Hạn chế ăn các đồ cay, nóng, chua
  • Tránh dùng chung các dụng cụ ăn uống
  • Hình thành lối sống, thói quen lành mạnh…

7. Các biến chứng nguy hiểm do viêm dạ dày Hp

7.1.  Xuất huyết tiêu hóa

viem_loet_da_day_hp4

Do sự mất tổ chức  ở các lớp thành dạ dày làm tổn thương. Nếu sự tổn thương ăn vào mạch máu sẽ gây chảy máu vào trong lòng ống tiêu hóa, được gọi là Hội chứng xuất huyết

Xuất huyết trong viêm dạ dày là xuất huyết tiêu hóa cao.

  • Máu ở trong lòng ống tiêu hóa bị tống ra ngoài theo hai con đường:
  •  Nôn ra máu: Màu sắc phụ thuộc thời gian chảy máu:  đỏ tươi (vừa chảy ra),  máu đen/máu cục (sau một thời gian)…Số lượng: phụ thuộc mức độ chảy máu. Lẫn với dịch dạ dày (dịch tiêu hóa) (phân biệt với ho ra máu: máu có lẫn bọt khí).
  • Đi ngoài ra máu: Do xuất huyết tiêu hóa cao, máu đi hết chiều dài của ruột nên phân đen do Hemoglobulin bị vi khuẩn trong lòng đại tràng chuyển hóa thành Hematin màu đen. Phân nát, mùi thối khắm như mùi cóc chết do Hemoglobulin bị hệ vi khuẩn trong ruột lên men) (phân biệt với các trường hợp phân đen khác: ăn tiết canh, uống sắt, bismuth…).
  • Mất máu làm giảm số lượng hồng cầu trong máu ngoại vi gây ra Hội chứng thiếu máu cấp tính
  • Da, niêm mạc: xanh nhợt, xuất hiện sớm.
  • Thần kinh: Đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ngất.
  • Tuần hoàn: Nhịp tim nhanh, Huyết áp giảm, tiếng thổi tâm thu.
  • Hô hấp: Khó thở, nhịp thở nhanh.
  • Nội soi dạ dày: nơi viêm đang chảy máu/máu đen.
  • Điều trị: Nội khoa: sử dụng các thuốc để cầm máu, thậm chí nội soi để cầm máu tại nơi bị tổn thương cho bệnh nhân bằng Adrenalin, dùng kẹp nếu chảy máu động mạch lớn. Nếu vẫn tiếp tục chảy máu cấp tính: mạch nhanh, huyết áp tụt, da xanh, niêm mạc nhợt,… nguy cơ bị sốc do giảm tuần hoàn → điều trị ngoại khoa để khâu cầm máu cho bệnh nhân.

7.2. Loét và thủng ổ loét

viem_loet_da_day_hp5

  • Khí ổ loét ăn sâu qua lớp thanh mạc bao quanh dạ dày gây ra các lỗ thủng, qua đó máu, acid, pepsin, vi khuẩn trong lòng dạ dày xâm nhập vào ổ bụng (khoang phúc mạc) của bệnh nhân gây bỏng toàn bộ khoang phúc mạc dẫn đến xuất hiện cơn đau thượng vị dữ dội như dao đâm (thay đổi tính chất cơn đau).
  • Bỏng gây co cứng toàn bộ các khối cơ ở thành bụng. Khám thấy toàn bụng cứng như khối gỗ.
  • Chụp X-quang tại ở bụng thấy hình ảnh liềm hơi ở dưới cơ hoành (những vùng màu tối trong ổ bụng do có khí, đẩy cơ hoành lên cao).Chẩn đoán: thủng tạng rỗng trong ổ bụng.

Khi đó cần Điều trị ngoại khoa tuyệt đối: cần đưa bệnh nhân đi phẫu thuật ngay để tìm và xử lý lỗ thủng nếu như bệnh nhân sẽ chết trong vòng 24h do nhiễm khuẩn.

7.3. Hẹp môn vị

  • Chỉ xảy ra nếu có loét tại hang môn vị và hành tá tràng.
  • Triệu chứng: đầy bụng, khó tiêu, do thức ăn không đưa xuống tá tràng để tiếp tục tiêu hóa, thức ăn sẽ bị đẩy ngược trở lại và giữ trong dạ dày, và khi bệnh nhân tiếp tục ăn sẽ gây áp lực trong lòng dạ dày tăng lên, dẫn đến nôn ra thức ăn cũ (bữa trước, thậm chí từ ngày hôm trước) chưa được tiêu hóa.
  • Nôn gây mất nước và điện giải
  • Không đưa thức ăn xuống ruột làm giảm mạnh hấp thu.

Các triệu chứng trên sẽ làm cho bệnh nhân suy kiệt rất nhanh

  • Khám: nằm ngửa thấy bụng lõm lòng thuyền, dấu hiệu Bouveret (+): trong cơn đau hoặc khi búng nhẹ vào vùng thượng vị sẽ xuất hiện các đợt sóng nhu động (sóng dạ dày).
  • X-quang dạ dày: dạ dày giãn to, nội soi dạ dày: hẹp lỗ môn vị.
  • Điều trị: nội khoa, nếu nặng thì cần điều trị ngoại khoa.

7.3. Ung thư hóa

viem_loet_da_day_hp6

  • Chỉ xảy ra với ổ loét ở dạ dày, đặc biệt với ổ loét nằm ở vùng bờ cong nhỏ.
  • Đau thượng vị mất tính chu kỳ và không đỡ khi sử dụng antacid, do nguyên nhân đau là sự tăng sinh ác tính của các tế bào xâm lấn, tổn thương tổ chức khiến cơ thể suy nhược, gầy sút, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, nôn, hội chứng thiếu máu mạn tính

Hội chứng thiếu máu mạn tính:

  • Da, niêm mạc: xanh nhợt, xuất hiện từ từ, kín đáo.
  • Thần kinh: Chóng mặt, đau đầu, ù tai, buồn bã.
  • Tuần hoàn: Nhịp nhanh, đau ngực, suy tim.
  • Hô hấp: Khó thở khi gắng sức.
  • Tiêu hóa: Chán ăn, tiêu chảy/táo bón.
  • Sinh dục: Rối loạn kinh nguyệt, giảm khả năng tình dục.
  • Lông, tóc, móng: Khô, rụng, dễ gãy, móng tay khum.
  • Khám bụng thấy khối u vùng thượng vị, di động ít hoặc không di động. Hạch di căn: do ung thư tiêu hóa, sẽ mang các tế bào ung thư đổ vào hệ thống bạch huyết và hố thượng đòn trái (vị trí của ống bạch huyết lớn nhất cơ thể) hình thành hạch Troisier ở vùng hố thượng đòn trái.
  • Điều trị ngoại khoa tương đối, căn cứ vào tuổi, tình trạng của bệnh nhân và các bệnh mắc kèm.

Kết luận

Viêm dạ dày Hp hiện vẫn đang là một bệnh rất phổ biến trên thế giới.

Liên hệ ngay HOTLINE 18006091 để được đội ngũ bác sĩ dược sĩ Scurma Fizzy hàng đầu của chúng tôi hỗ trợ giải đáp những thắc mắc và cách điều trị hiệu quả khi có triệu chứng bất thường từ dạ dày của bạn.

Share this post


Contact Me on Zalo
1800 6091